Chúa Nhật Thứ III Mùa Chay – Năm B

Đăng ngày: 02/03/2024

(Bài đọc I: Xh 20:1-17; Bài đọc II: 1 Cr 1:22-25; Tin Mừng: Ga 2: 13-25)

Giá trị cốt lõi trong tìm kiếm Thiên Chúa

Nếu chúng ta lùi lại và nhìn lại đằng sau những lời của Bài đọc Chúa nhật này, chúng ta có thể thấy rằng chủ đề của tất cả các bài đọc là “Những Nguyên tắc và Giá trị”. Và đôi khi chúng ta nghĩ rằng chủ đề này bất bình thường, nhưng thực sự, nó là một chủ đề quan trọng, vì toàn bộ Kinh Thánh hướng chúng ta đến những mục tiêu cụ thể và thường cảnh báo chúng ta về những mục tiêu thay thế hoặc gây xao lãng trên đường đi; nhưng mục tiêu cuối cùng phải luôn là “Tìm kiếm khuôn mặt Thiên Chúa” (Tv 27:8-9). Người Do Thái cổ đại sử dụng khái niệm “mặt” có nghĩa là sự hiện diện của Chúa, và điều này chỉ có thể được thực hiện trong đền thờ Giêrusalem.

Bài đọc thứ nhất trích từ Sách Xuất Hành (20:1-17). Đây là câu chuyện Chúa ban Mười Điều Răn cho ông Môise. Ba điều răn đầu tiên liên quan đến mối quan hệ của con người với Thiên Chúa. Phần còn lại đề cập đến mối quan hệ của con người với hàng xóm, gia đình, bạn bè, v.v. Đây không chỉ là những quy tắc thông thường, mà còn là những hướng dẫn cho mối quan hệ hòa bình với Thiên Chúa và con người. Chúng ta có thể nhận thấy rằng ba điều đầu tiên rất chi tiết, trong khi phần còn lại rất ngắn gọn. Điều này là do Thiên Chúa phải được tôn thờ một cách đặc biệt, vì chúng ta biết Ngài là ai rồi: “Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ” (Xh 20, 2).

Thánh Vịnh Đáp Ca (19:8-11). Trong lời cầu nguyện này, tác giả Thánh Vịnh đang ca ngợi Thiên Chúa vì những luật lệ, sắc lệnh và giới răn của Ngài, v.v., thừa nhận chúng “quý hơn vàng” vì chúng có thể hướng dẫn chúng ta đến sự sống và hạnh phúc vĩnh cửu.

Bài đọc thứ hai trích từ Thư thứ nhất của Thánh Phaolô gửi tín hữu Côrintô (1:22-25). Ở đây Thánh Phaolô đang giải thích cho người Côrinhtô (và cho chúng ta) rằng, hầu hết người Do Thái không thể chấp nhận Đức Kitô, vì Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá (hoặc treo trên cây gỗ) mà đối với họ là điều ô nhục lớn nhất. Họ không thể nhìn thấy đằng sau hoặc xa hơn hành động yêu thương quên mình này. Và dân ngoại coi đó là điều ngu xuẩn. Nhưng chúng ta, những người trung thành, có thể nhìn thấy nó thực sự là gì, lễ vật cao cả của tình yêu và sự cứu chuộc của toàn thể nhân loại: “Đấng ấy chính là Đức Ki-tô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1 Cr 1, 24).

Bài đọc Tin Mừng được trích từ Tin Mừng Thánh Gioan (2:13-25). Đây là câu chuyện quen thuộc về việc Chúa Giêsu đuổi ra khỏi đền thờ những kẻ mua bán thú vật và chim chóc dùng để hiến tế. Việc thực hành, mặc dù ban đầu có thể chấp nhận được, nhưng dần dần vượt khỏi tầm kiểm soát và trở nên quan trọng hơn đền thờ, cũng như mục đích chính của nó. Hành động của Chúa Giêsu đã khiến những người bán hàng và những người quản lý đền thờ nổi giận, họ yêu cầu một lời giải thích và một “dấu lạ”.

Ngày nay, chúng ta thật may mắn khi không phải mang chim hay thú vật đến nhà thờ để tế lễ. Chúng ta có điều gì đó lớn lao hơn nhiều, nhưng chúng ta vẫn phải “giữ thánh ngày Sa-bát”.Với truyền thống đức tin Do thái, ngày Sabát của Israel là duy nhất. Bắt chước Thiên Chúa của mình, người Israel đã thánh hiến bảy ngày một lần cho việc thờ phượng, lễ kỷ niệm gia đình và giải trí. Ngày Sabát khẳng định rằng con người quan trọng hơn công việc, rằng mối quan hệ bền chặt với Thiên Chúa và những người khác đánh giá cao hơn bất kỳ thành tựu nào và mọi người đều cần thời gian để tái tạo, để làm mới bản thân trong mối quan hệ với mọi thứ khác.

Ngày Sabát đã trở thành một cách tiếp cận cuộc sống nhằm bí tích hóa thời gian và sự thư giãn của con người. Ngày Sabát nâng cao mối quan hệ của con người với Thiên Chúa và cũng củng cố căn tính chung của chúng ta. Thái độ của ngày Sabát đã mài giũa sự đánh giá cao của Israel đối với sự thánh thiêng xung quanh họ và nêu bật những địa điểm và những thực hành giúp họ nhận thức sâu sắc hơn về sự hiện diện của Thiên Chúa và ý nghĩa cuộc sống của họ.

Trong khi Thiên Chúa của Israel có thể xuất hiện ở bất cứ đâu, thì đền thờ đóng vai trò là trung tâm cầu nguyện và những cách thể hiện khác về mối quan hệ của dân tộc với Thiên Chúa. Đó là một nơi linh thiêng. Ngày Chúa Giêsu vào đền thờ, Ngài không thấy họ thực hành đức tin mà là phạm thánh. Nơi thờ phượng này, trung tâm tôn giáo dành cho toàn thể dân Chúa, trông giống như một khu chợ – nơi mà sự phân biệt giữa nam và nữ, giáo sĩ và giáo dân, giàu và nghèo được phô bày và vô trật tự.

Thay vì là một sự khuyến khích để cầu nguyện, sự hy sinh đã trở thành một công việc kinh doanh, hỗ trợ những người đổi tiền và thương gia kiếm bộn tiền bằng cách bán quyền tiếp cận Thiên Chúa. Hoạt động trái ngược với những gì nó dự định, đền thờ bây giờ có thể đã cản trở trải nghiệm của mọi người về một Thiên Chúa nhân từ, yêu thương. Trong mắt Chúa Giêsu, đền thờ đã trở thành nơi báng bổ, chống lại triều đại của Thiên Chúa.

Sau khi đuổi những người bán lẻ tôn giáo, Chúa Giêsu đã đưa ra tuyên bố nổi tiếng: “Các ông cứ phá huỷ Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại” (Ga 2, 19).  Thánh Gioan giải thích rằng “ngôi đền thờ này” ám chỉ chính Chúa Giêsu chứ không phải một kỳ quan kiến trúc. Như trong cuộc trò chuyện của Chúa Giêsu với một người phụ nữ bên giếng nước, cụm từ đó dạy rằng, sự hiện diện của Thiên Chúa không thể được nắm bắt trong các công trình kiến trúc – dù đó là các tòa nhà, nhà tạm hay thậm chí là những thực hành cụ thể.

 Chúng ta khám phá sự hiện diện của Thiên Chúa giống như Môsê đã khám phá. Ông đã trải nghiệm một mầu nhiệm kêu gọi ông đến với một ơn gọi dường như không thể thực hiện được, một ơn gọi đã thành hiện thực, nhờ sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Chúa Giêsu tuyên bố rằng Ngài đã thay thế hoàn toàn đền thờ và lễ vật. Ngài đã bí tích hóa sự hiện diện của Thiên Chúa qua các mối quan hệ yêu thương của mình và tất cả những gì tuôn chảy từ chúng.

Từ Lời Chúa hôm nay, chúng ta hãy ý thức về sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống chúng ta mỗi khi chúng ta đến nhà thờ tham dự các cử hành phụng vụ và thờ phượng. Chúng ta nên mang đến nhà thờ một điều gì đó quan trọng hơn nhiều so với động vật hay chim chóc, chẳng hạn như một trái tim thống hối, một trái tim bị tổn thương, hoặc có lẽ là một tấm lòng vui tươi tạ ơn. Dù là gì đi nữa, chúng ta cũng nên ý thức được mình đang dâng gì cho Chúa trong mỗi thánh lễ mà chúng ta tham dự.

Lm Phêrô Phạm Minh Triều, CM