Chúa Nhật Thứ XIV TN – Năm B

Đăng ngày: 06/07/2024

(Bài đọc I: Ez 2:2-5; Bài đọc II: 2 Cr 12:7-10; Tin Mừng: Mc 6:1-6)

Tất cả các bài đọc hôm nay đều nói về các Ngôn sứ và sứ vụ của các ngài. Vì vậy, để hiểu rõ hơn các bài đọc này, chúng ta cần hiểu vai trò của các ngôn sứ trong Kế hoạch Cứu độ của Thiên Chúa. Các ngôn sứ văn chương (những người đã để lại cho chúng ta những ghi chép về tác phẩm của họ) đã xuất hiện trong bối cảnh Lịch sử Do Thái trong thời kỳ Chế độ quân chủ Do Thái (khoảng Thế kỷ thứ 10 đến Thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên). Họ được Thiên Chúa sai đến với dân Do Thái để giúp họ nhận thức được sự bất tuân và bất trung của mình đối với Thiên Chúa.

Vì vậy, họ đã nói thay cho Chúa và khi dân bỏ qua lời của họ là bỏ qua lời của Thiên Chúa. Các nhà ngôn sứ không phải là “thầy bói”. Một số thông điệp hoặc lời rao giảng của họ chứa đựng những lời đe dọa, cảnh báo, dụ dỗ và thậm chí cả những lời hứa hẹn về những điều lớn lao hoặc thảm họa sẽ xảy ra, nếu dân chúng không từ bỏ con đường xấu xa của mình và quay trở lại với Thiên Chúa; nhưng hầu hết các thông điệp của họ đều nói về tình yêu vĩ đại của Chúa dành cho dân Ngài. Tuy nhiên, tấm lòng của các nhà lãnh đạo Do Thái quá cứng đầu, đến nỗi cuối cùng họ đã giết chết hầu hết các ngôn sứ. Về cơ bản, chúng ta có thể nói rằng các ngôn sứ đại diện cho Thiên Chúa trong việc cố gắng cân bằng sự ác trong thời đại đó. 

Bài đọc thứ nhất trích từ sách Ngôn sứ  Êzêkiel (2:2-5). Thông điệp của ngôn sứ Ezekiel gửi đến những người Do Thái lưu vong đã ở Babylon, như một hình phạt cho sự bất tuân và bất trung của họ. Cho đến nay, họ vẫn chưa hiểu rõ tại sao họ lại ở đó. Thiên Chúa sai tôi tớ của Ngài, là ngôn sứ Ezekiel đến dân Ngài ở Babylon để thuyết phục họ ăn năn và cho họ biết rằng Thiên Chúa vẫn sẵn sàng và chờ đợi họ làm như vậy, để Ngài có thể an ủi họ và đưa họ trở về Israel. Và dù họ nghe hay không nghe thì họ không thể phủ nhận sự hiện diện của vị ngôn sứ ở giữa họ: “nhưng chúng phải biết rằng có một ngôn sứ đang ở giữa chúng” (Ez 2, 5).

Đáp Ca là Thánh Vịnh (123:1-4). Nhiều năm sau, người Do Thái ở Babylon cuối cùng cũng nhận được thông điệp và ăn năn hối cải – ít nhất là ở một mức độ nào đó. Thánh vịnh này là một bài Thánh Vịnh mà lẽ ra họ có thể dâng lên Thiên Chúa, để xin Ngài thương xót đón nhận họ trở lại với những ân sủng tốt lành của Ngài. 

Bài đọc thứ hai trích từ Thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Côrintô (12:7–10). Trong những ngày đầu của Kitô giáo, Thánh Phaolô có thể được coi là một ngôn sứ. Chắc chắn, ngài đã nói thay mặt Chúa và để lại cho chúng ta vô số tác phẩm đã trở thành nền tảng cho thần học Kitô giáo. Nhưng cùng với đặc ân được làm sứ giả của Thiên chúa là những khó khăn và thậm chí cả cái chết: “Thế nên tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Ki-tô ở mãi trong tôi” (2 Cr 2, 9).  Thánh Phaolô đã trải qua tất cả những điều này và sau đó là một số điều khác, nhưng ông là một trong những vị thánh vĩ đại nhất của chúng ta. 

Bài đọc Tin Mừng được trích từ Tin Mừng theo thánh Máccô (6:1-6). Câu chuyện này nói về Chúa Giêsu và danh tiếng của Ngài ở các vùng lân cận. Ngài được hầu hết mọi người công nhận là một vị ngôn sứ, vì Ngài đã nói thay cho Thiên Chúa và thực hiện các phép lạ. Tuy nhiên, tại quê hương của Ngài, Ngài không được chấp nhận dễ dàng như vậy. Người dân thị trấn đã quá quen thuộc với Ngài. Họ nhớ đến Ngài như một người thuộc về họ: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi” (Mc 6, 4). Vì vậy, Ngài không thể làm nhiều phép lạ ở đó vì họ thiếu đức tin. Ngài cũng có kết cục giống như các ngôn sứ ngày xưa vì những người cai trị đền thờ không thích những gì Ngài phải nói. 

Vậy thì bây giờ chúng ta có thể hỏi: “Các ngôn sứ ngày nay là ai và ở đâu?” Kể từ thời Chúa Giêsu, Giáo Hội đã là tiếng nói của Thiên Chúa giữa dân mình. Hội Thánh nói thay cho Thiên Chúa và giải thích sứ điệp của Thiên Chúa cho dân Người. Những lời tuyên bố như vậy chỉ đến sau nhiều lời cầu nguyện và tâm hồn tìm kiếm, để chắc chắn rằng đó là ý muốn của Thiên Chúa. Vì vậy, điều quan trọng là chúng ta dành thời gian để cố gắng hiểu rõ hơn những lời dạy của Giáo hội. Bỏ qua Giáo hội là bỏ qua Chính Chúa Kitô.

Lm Phêrô Phạm Minh Triều, CM