Cuộc đại phúc: từ Chúa Giêsu đến Thánh Vinh Sơn cho đến chúng ta

Đăng ngày: 26/04/2020

Atilano G. Fajardo, CM

Giới thiệu

Những năm gần đây chúng ta đã chứng kiến sự suy giảm của các cuộc đại phúc Vinh Sơn được thực hiện trong Tỉnh dòng Philippines. Một số người đã nghi ngờ tính thích đáng và khả năng duy trì những thành quả ban đầu của cuộc đại phúc. Những người khác đánh giá các cuộc đại phúc truyền thống là không nhạy bén với lời kêu gọi trước các “dấu chỉ của thời đại”. Bài viết này không nhằm biện hộ cho hình thức đại phúc truyền thống, nhưng để làm rõ vai trò thiết yếu của cuộc đại phúc trong toàn bộ công việc truyền giáo của Giáo Hội.

Từ Chúa Giêsu, Đấng rao giảng Tin Mừng…

Nguồn gốc của tất cả các cuộc đại phúc bắt đầu không chỉ trong thời gian của thánh Vinh Sơn Phaolô ở thời điểm 1660. Đại phúc bắt đầu từ nhiều thế kỷ trước với Người sáng lập đầu tiên, cũng là nhà truyền giáo: Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu là căn nguyên và cùng đích của mọi cuộc đại phúc. Đức Giêsu là nhà truyền giáo vĩ đại.

Nhìn vào cuộc đời của Chúa Giêsu, người ta không thể chỉ ngạc nhiên trước công việc vĩ đại mà Ngài đã làm để rao giảng sứ điệp của Chúa Cha, Đấng đang ở trên Trời. Chúa Giêsu bị coi là một tên trộm, một kẻ đạo đức giả, một kẻ nói dối, một người kết bạn với quân thu thuế, một kẻ thù của Xê-da, và rất nhiều điều nữa, nhưng không ai ngăn được Người đi từ nơi này đến nơi khác để rao giảng sứ điệp nhân lành của Chúa Cha.

Sau Phép Rửa ở sông Giođan và 40 ngày trong sa mạc; sau dấu lạ ở tiệc cưới Cana; sau khi đã cử hành lễ Vượt Qua ở Giêrusalem, Chúa Giêsu trở lại Cana nơi Ngài thực hiện dấu lạ thứ hai – chữa con của một sĩ quan cận vệ nhà vua. Sau đó Người rời khỏi vùng đất tốt lành Nazareth – nơi chứa đầy những kỷ niệm trong 30 năm ẩn dật, Người đến Ca-phác-na-um bên Biển hồ Tibêria để ứng nghiệm những lời ngôn sứ Isaia đã nói: “…miền bên kia sông Giođan, vùng đất Galilê (dân ngoại). Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.”(Is 9,1-2)

Từ lúc đó, Đức Giêsu bắt đầu rao giảng và công bố rằng: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.” (Mt 4,17)

Lời rao giảng trên là sự khởi đầu sứ vụ của Chúa Giêsu. Bắt đầu từ thời điểm đó, lời công bố sứ điệp của Chúa Cha đã đưa ra định hướng cho tất cả kế hoạch và cố gắng của Người. Do đó, toàn bộ cuộc đời Chúa Giêsu đã trở thành nhân chứng cho Vương quốc của Chúa Cha. Chúa Giêsu đã tuyển chọn 12 tông đồ để giúp Người thực hiện công việc này, sau đó Ngài chọn nhóm 70. Các môn đệ này đã là những nhà truyền giáo đầu tiên được ủy thác tiếp tục công việc của Chúa và kéo dài cho tới thời viên mãn.

Nhưng công việc của Chúa Giêsu là gì? Cốt lõi trong lời loan báo về Vương quốc của Chúa Cha là gì? Đức Giêsu đã giải thích sứ vụ của Người như sau:

“Thần Khí Đức Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa.” (Lc 4,14-27)

“Người sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn”: Để loan báo Tin Mừng cho người nghèo, Chúa đã sai tôi đi (Lc 4,18). Về mặt từ nguyên, truyền giáo xuất phát từ chữ “mittere”, có nghĩa là sai đi. Đó là hành động sai đi cho một sứ vụ; hoặc có thể có nghĩa là sứ vụ đó được gửi gắm hoặc ủy thác cho một ai đó. Vì vậy, một người ta trở thành nhà truyền giáo khi được sai đi loan báo Tin Mừng cho người nghèo.

Quả thật, sứ mạng của các tông đồ, sứ mạng của Giáo Hội Đức Giêsu Kitô là rao giảng Tin Mừng cho muôn dân muôn nước, trong mọi thời đại và cho đến tận thế. Trước nhan Thiên Chúa, mọi người trong mọi thời đại đều là những tội nhân đáng thương, họ cần được chuộc tội và cứu rỗi; do đó, tất cả phải thuộc về Nước Thiên Chúa, Nước Trời đã chuẩn bị cho họ từ căn nguyên của thế giới (Mt 25,34). Chúa Giêsu đã quan tâm đến những “người nghèo hèn nhất”, những người ngồi nơi tăm tối và trong bóng tử thần (Lc 1,79). Người mong muốn các tông đồ mang đến cho dân chúng khả năng nhận biết ơn cứu độ qua việc tha thứ cho tội lỗi của họ.

Vì thế, thật hợp lý khi nói rằng sứ vụ mà Chúa Giêsu trao lại cho các tông đồ ngay từ đầu và được các nhà truyền giáo tiếp tục, chính là ưu tiên hướng đến những người nghèo. Tin Mừng phải được rao giảng cho tất cả mọi người, giàu cũng như nghèo, khôn ngoan cũng như ngu dốt, tốt cũng như xấu, thánh thiện cũng như tội lỗi, nhưng trên hết, Tin Mừng phải được rao giảng cho người nghèo, những người thiếu hiểu biết, những người bị ruồng bỏ. Do đó, vai trò tối hậu của “các cuộc đại phúc cho dân ngoại” (đại phúc giữa những người ngoại đạo, hay còn gọi là truyền giáo)[1]“các cuộc đại phúc trong giáo phận” (truyền giáo cho những người mặc dù đã được rửa tội nhưng không được hướng dẫn và sống hoàn toàn xa rời đời sống Kitô hữu hoặc đánh mất đời sống Kitô hữu bởi ý muốn xấu xa, bỏ bê, thờ ơ hoặc thiếu hiểu biết)[2] giống như hai mặt của cùng một đồng tiền, vừa quan trọng nhất vừa bổ sung cho nhau.

Sứ điệp được rao giảng bởi bất kỳ nhà truyền giáo nào cũng đều là sứ điệp mà chính Chúa Giêsu đã rao giảng: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” (Mc 1,15)

Vậy, ta có thể được tóm tắt ngắn gọn những gì các nhà truyền giáo phải rao giảng. Đầu tiên là Tin Mừng cứu độ, cụ thể là Nước Trời đang ở trong tầm tay; cho dù vì tội lỗi mà chúng ta đã mất quyền được gọi là con Thiên Chúa, và thực sự là như vậy (Ga 3,12), do đó, chúng ta đã mất quyền sống trong Vương quốc của Cha chúng ta, giờ đây, chính Chúa đến để cứu độ chúng ta, để nhận chúng ta trở lại vòng tay rộng mở của Người, trước hết trong Vương quốc của Người trên trái đất và sau đó là trong Vương quốc của Người nơi thiên đàng. Đây là Tin Mừng Cứu Rỗi: Chúa Giêsu đã cứu chúng ta. Ơn cứu độ của Đức Chúa chính là đây rồi.

Thứ hai, Chúa dạy chúng ta để đạt được ơn cứu rỗi đó, hay nói khác đi là để bước vào Vương quốc của Thiên Chúa, chúng ta chỉ cần ăn năn tội lỗi của mình và tin vào Tin Mừng, tức là sám hối, hoán cải, thay đổi đời sống của chúng ta, mang lại những hoa quả xứng đáng của bình an (Lc 3,8) và tin tưởng. Điều đó có nghĩa là chúng ta cần có một đức tin sống động, thể hiện trong các công việc bác ái (Gc 2, 14-26).

Tất cả các chủ đề được rao giảng trong các cuộc đại phúc đều bao gồm trong điểm này: theo gương chính Chúa Giêsu, Tin Mừng của Chúa Cha (Mc 1,1; Rm 1,1-3), Nhà truyền giáo đầu tiên và vĩ đại nhất.[3]

Đến thánh Vinh Sơn, một nhà truyền giáo…

Thánh Vinh Sơn Phaolô – Tông đồ của đức ái là một trong số những người được kêu gọi đáp ứng những kẻ nghèo khổ nhất trong những người nghèo. Ngài đã nhận cho mình trách nhiệm rao giảng Tin Mừng cứu độ cho những người bị bỏ rơi nhất qua một phương thức được gọi là các cuộc đại phúc. Thánh Vinh Sơn đã không hề dự kiến về phương pháp này. Đó là một phương pháp mà ngài phát hiện ra khi phục vụ người nghèo trong thời đại của mình.

Vào năm 1625, khi đi vòng quanh khu đất rộng lớn của gia đình Gondi, Chúa đã khiến thánh Vinh Sơn nhận ra rằng những người nghèo bị kết án sa hoả ngục vì họ không biết gì đến các chân lý nền tảng của đức tin và thiếu sự chuẩn bị cơ bản cho việc lãnh nhận các bí tích. Những điều này làm thánh Vinh Sơn cảm động đến mức ngài đã thiết lập một nhóm linh mục, những người sẵn sàng rao giảng không phải cho giới quý tộc ở Paris, mà là cho những người ở miền quê, những người không ai dám hướng dẫn và ở với họ. Vì vậy, bắt đầu từ thời gian đó, cùng với những người bạn đồng hành đầu tiên của mình, họ đã thành lập Nhóm đại phúc Vinh Sơn đầu tiên.

Nhu cầu hiểu biết những nền tảng đức tin và sự thiếu hiểu biết trong việc lãnh nhận các bí tích, đặc biệt là bí tích hòa giải, là hai sự dữ căn bản mà cuộc đại phúc ban đầu của thánh Vinh Sơn Phaolô muốn chống lại. Điều này giải thích tại sao các buổi nói chuyện đại phúc và xưng tội tổng quát lại đóng vai trò rất quan trọng trong việc dự kiến và lập kế hoạch cho bất kỳ cuộc đại phúc nào. Một cuộc đại phúc Vinh Sơn mà không có các ưu tiên này, có thể tốt đẹp và hiệu quả, nhưng chắc chắn thiếu đi tinh thần ban đầu.

Và đến chúng ta, các nhà truyền giáo

 Ngày nay, do có nhiều xu hướng và phong trào xảy ra trong Giáo Hội, các cuộc đại phúc truyền thống bị đặt sang một bên. Điều đó cho thấy mục tiêu của cuộc đại phúc đã bị đặt vấn đề, tính thích đáng của cuộc đại phúc bị nghi ngờ và khả năng đem lại hiệu quả truyền giáo đáng tin cậy của nó bị xét đoán một cách vội vàng. Tuy nhiên, Giáo Hội nói gì về đại phúc? Nó có còn là một phương pháp truyền giáo vững chắc, phù hợp với các Dấu chỉ Thời đại không?

Vào ngày 16 tháng 10 năm 1979, trong Tông huấn Catechesi Tradendae (Dạy giáo lý trong thời đại của chúng ta) gửi cho các Giám mục, Giáo sĩ và các Kitô hữu trong toàn Giáo Hội Công giáo về việc dạy Giáo lý trong thời đại chúng ta, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết:

“Có những cuộc đại phúc truyền thống thường bị bỏ đi một cách vội vã, nhưng không thể thay thế cho sự đổi mới thường xuyên và mạnh mẽ của đời sống Kitô hữu – chúng phải được hồi sinh và làm mới lại.”[4]

Vào một dịp khác, Đức Giáo Hoàng đã phát biểu trong một bài diễn văn, vào ngày 15 tháng 11 năm 1982, cho 1.100 nhà truyền giáo được tập hợp trong Đại Sảnh Phước Lành ở Vatican. Đức Giáo Hoàng nói:

“Như chúng con biết, các cuộc đại phúc cho dân chúng đã làm nên những trang sử tuyệt đẹp trong lịch sử của Giáo Hội, chúng được viết bởi những nhân vật thiên phú như thánh Charles Borromeo, thánh Ignatiô Loyola, thánh Vinh Sơn Phaolô, thánh Leonard của Port Maurice, thánh Phaolô Thánh giá, thánh Gaspare of Bufalo, thánh Alphonsô Liguori, chân phước Eugene Mazenod và nhiều vị tông đồ không mệt mỏi khác. Giáo Hội mắc nợ nhiều Hội dòng và Tu Hội đã thúc đẩy loại hình truyền giáo này.

“Như cha đã đề cập trong Tông huấn Catechesi Tradendae, những cuộc đại phúc truyền thống ấy, vốn thường bị bỏ rơi quá nhanh, trong thực tế, lại không thể thay thế cho một cuộc đổi mới thường xuyên và mạnh mẽ của đời sống Kitô hữu; chúng phải được hồi sinh và làm mới lại”, cũng như phải được “phục hồi với các phương pháp và tiêu chí mới mẻ và thích nghi trong các giáo phận và giáo xứ, theo sự đồng thuận với các Hội Thánh địa phương.”[5]

Trong một bài diễn văn khác về các cuộc đại phúc cho những người thuộc thập niên 80, Đức Giáo Hoàng nói:

“Cha cũng bày tỏ với các con lòng biết ơn của cha và của cả Giáo Hội về sự dấn thân và thiện chí của con trong việc thực hiện và đổi mới những thực hành đạo đức và hiệu quả của các cuộc đại phúc. Lưu tâm đến những gì mà vị Thầy Chí Thánh đã truyền: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ…. dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,19-20), chúng ta không thể không vâng lời với lòng can đảm và niềm vui, trong khi loan báo cho tất cả mọi người rằng Thiên Chúa đã làm cho Đức Giêsu trở nên sự khôn ngoan, công chính, thánh thiện và cứu độ của chúng ta.”[6]

Dựa trên các bài nói chuyện và suy tư của Đức Thánh Cha, các cuộc đại phúc truyền thống giữ một vai trò rất quan trọng trong công cuộc truyền giáo của Giáo Hội. Đó là một phương tiện truyền giáo hữu hiệu cho người nghèo không chỉ trong thời thánh Vinh Sơn Phaolô mà cho đến thời điểm hiện nay.

Quả thật, cho đến thời điểm hiện tại, các cuộc đại phúc truyền thống vẫn có nhiệm vụ “mặc khải Đức Giêsu Kitô và Tin Mừng của Ngài cho những người chưa biết”, đặc biệt nhất là những khu vực sống bên lề xã hội. Điều này được xem là “gặp gỡ những người nam nữ trong thời đại chúng ta. Không chỉ chờ đợi họ mà còn đến với họ… cố gắng tiếp cận họ một cách cá vị vì tình yêu mà Chúa Kitô dành cho họ.”[7]

Bất kể thời gian đã trôi qua kể từ thời Chúa Giêsu, đến thời thánh Vinh Sơn và thậm chí cho đến thời điểm hiện tại, Cuộc đại phúc truyền thống, cho dù có thể lỗi thời trong hình thức và nội dung, vẫn sẽ luôn giữ một vị trí trong các nỗ lực tông đồ của Mẹ Giáo Hội. Chỉ có Giáo Hội, trong sự Duy nhất của mình, mới có khả năng thực hiện các hoạt động tông đồ đó.

Thách đố:

Sau khi cho thấy tính thích đáng của cuộc đại phúc từ thời Chúa Giêsu cho đến hiện tại, tác giả muốn tiếp tục đặt câu hỏi, liệu có cách nào tốt hơn để thực hiện cuộc đại phúc trong ngày nay không? Đại phúc có thể được điều chỉnh như là một phương thức rao giảng Tin Mừng cho người nghèo giữa những thay đổi nhanh nhất đang xảy ra trong cộng đồng toàn cầu? Nếu vậy, đâu là hình thức thích hợp nhất của nó, hay đâu phương pháp và hướng tiếp cận phù hợp nhất của nó?


[1] Evangelii Nuntiandi, 51.

[2] Ibid, 52.

[3] Evangelii Nuntiandi, 7.

[4] Catechesi Tradendae, 47.

[5] Bài nói chuyện với các tham dự viên trong hội nghị: Đại phúc cho những người ở thập niên 80” Osservatore Romano, in English, March 16, 1981.

[6] Diễn văn của ĐTC Gioan Phaolô II cho 500 tu sĩ và linh mục đang tham dự trong Hội nghị quốc tế đầu tiên về “Đại phúc cho những người ở thập niên 80 trong buổi tiếp kiến ngày 6-3-1981, Osservatore Romano, English Edition, March 16, 1981, pp. 16-17.

[7] Ibid.