Bài nói chuyện của Cha Chủ tịch Gia đình Vinh Sơn nhân dịp họp mặt mừng lễ thánh Vinh Sơn tại Đà Lạt | Ngày 22-09-2026

Đăng ngày: 5 giờ trước

 

CỘNG TÁC TRONG GIA ĐÌNH VINH SƠN:

HÃY LIÊN KẾT VÀ HIỆP NHẤT VỚI NHAU

ĐỂ CÙNG LO CHO ƠN CỨU ĐỘ NGƯỜI NGHÈO” (SV. XIII,204)

 

GIA ĐÌNH VINH SƠN

Cả cuộc đời Cha thánh Vinh Sơn được vận động và thúc đẩy bởi ba đoạn Tin mừng chính yếu: Lc 4,18: Chính Chúa sai tôi đi rao giảng Tin mừng cho người nghèo; Lc 10,25-37: mẫu gương người Samaritano nhân hậu và Mt 25,31-46: Ngày phán xét cuối cùng mà chúng ta đều phải ra trước toà Chúa. Tất cả 3 đoạn Tin mừng này làm nên Linh đạo Vinh Sơn: Được chính Chúa sai đi; Nhìn nhận thấy Chúa nơi bản thân người cùng khổ và Tất cả chúng ta phải trả lẽ trước mặt Chúa vào giờ sau hết về tình yêu mà chúng ta đã dành cho Chúa hiện thân nơi những người nghèo khổ.

Mừng Lễ Thánh Vinh Sơn hôm nay, một lần nữa lại đưa chúng ta về biến cố Folleville và Châtillon-les-Dombes năm 1617. Mùa đông 1617 Vinh Sơn đã chạm đến cái nghèo thiêng liêng của vùng quê và tình trạng dốt nát của hàng giáo sĩ khi ấy. Mùa hè cùng năm 1617, Vinh Sơn lại khám phá ra cái nghèo thể lý qua một gia đình nghèo đều lâm bệnh, và qua biến cố tại Châtillon-les-Dombes này ngài đã nhận ra lòng quảng đại yêu thương chia sẻ của người giáo dân. Chính từ hai biến cố này mà AIC đã được thành lập, THTG được khai sinh và thành lập 14/4/1625 và NTBA vào năm 1633 mà tiền thân chính từ AIC.

Để từ những biến cố lịch sử nguyên hứng ấy cách đây hơn 400 năm, ngọn lửa linh đạo VS vẫn bùng cháy.

  • Hội Các Bà Bác Ái – 8/12/1617 (AIC): 150.000+“Luôn thương yêu giúp đỡ những người nghèo”. (50 quốc gia)
  • Tu Hội Truyền Giáo – 1625 (CM): 2.891+ “Chúa sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo” (102 quốc gia)
  • Tu Hội Nữ Tử Bác Ái – 1633 (FdlC): 16.000+“Tình yêu Đức Kitô chịu đóng đinh thúc bách tôi” (96 quốc gia)
  • Hội Bác Ái Thánh Vinh Sơn – 1833 (SSVP): 800.000+ “Phục vụ trong hy vọng”. (133 quốc gia) Hội hoạt động theo tinh thần cha Thánh Vinh Sơn phục vụ người nghèo.
  • Giới Trẻ Vinh Sơn Maria – 1847 (JMV): 200.000+ “Cùng với Đức Maria đến với Chúa Giêsu”. (65 quốc gia). Linh đạo mang tính: giáo hội, giáo dân, thánh mẫu và vinh sơn: loan báo Tin mừng cho người nghèo và phục vụ, là một trong những nét đặc trưng cho sự hiện diện của mình trong Giáo Hội.
  • Các Chị Em Ảnh Phép Lạ – (6/4/1947) (AMM)–1909: “Hãy làm mọi sự vì đức mến” (1Cr 16,14
  • Các tổ chức mang tinh thần Vinh Sơn: Hơn 250 tổ chức.

TÂM TRẠNG CON CÁI VINH SƠN NGÀY CHUNG THẨM (Mt 25,31-46)

Theo lẽ thường ngày phán xét cuối cùng luôn là ngày lo sợ hồi hộp của mọi người vì không biết số phận mình sẽ ra sao. Rơi vào đám dê hay được xếp vào hàng ngũ chiên ngoan được Chúa công bố là “kẻ được Cha ta chúc phúc” hay bị dồn đuổi vào số đám “quân bị nguyền rủa”!? Chúng ta hãy nghe cha Vinh Sơn nói vào ngày 13/2/1646 “Thiên Chúa đã hứa ban phần thưởng đời đời cho những ai đã cho một kẻ bé mọn một ly nước lã. Vậy chúng ta còn gì phải hoài nghi lo sợ. Đó là lý chứng lớn nhất cho niềm hy vọng của chúng ta. Các con thân mến, vì nếu Thiên Chúa ban thưởng hạnh phúc vĩnh cửu cho những kẻ chỉ cho người bé mọn một ly nước lã, thì Ngài sẽ ân thưởng đến điều gì nữa đây cho các con, là những người đã từ bỏ tất cả và hiến dâng chính mình để suốt cuộc đời phục vụ người nghèo? Ngài sẽ ban gì đây? Ôi! điều đó không thể tưởng tượng được! Các con có lý để tin cậy được kể vào số những kẻ mà Ngài đã nói: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương quốc dọn sẵn cho các ngươi” (SV. IX, 252-253, 13/2/1646: giải thích Mt 25,34).

Người ta luôn lo lắng và sợ hãi về điều mình không biết trước. Tin mừng Mt 25,31-46 là một tin cực vui, vì sao? Vui vì chúng ta có Đức Maria, cha Vinh Sơn, mẹ Louise, chân phước Frederic Ozanam đã sống Tin Mừng này và bật mí cho chúng ta đáp án đúng nhất cho các câu hỏi mà Chúa sẽ hỏi chúng ta vào ngày chung thẩm. Đó chính là tình yêu mà chúng ta đã dành cho Chúa qua những người phận nhỏ.

Chiên Hay Dê? Năm nào lễ thánh Vinh Sơn chúng ta cũng được nghe Tin Mừng về ngày chung thẩm.

“Bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người. Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê. Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái “ (Mt 25,31-33).

Trong ngày chung thẩm, Đức Vua không hề đề cập đến điều gì khác ngoài những nhu cầu vật chất của xã hội đói nghèo. Ngài không còn là một khuôn mặt xa cách. Nhưng Ngài đồng hóa mình với xã hội những người nghèo, những người cùng khổ để tìm kiếm và minh định nhân chứng tình yêu.

Chính những kẻ bé mọn nhất trong xã hội sẽ định danh lối sống của Kitô hữu. Chính họ đã xác định ai là chiên ai là dê. Như thế, trong ngày chung thẩm, Vua chỉ theo phận của từng người mà phân chia họ ra. Vua không hề đích thân ấn định ai là chiên ai là dê. Vua không phán xét. Vua chỉ phân rẽ chiên ra khỏi dê: “Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê” (Mt 25,32). Chính các Kytô hữu, tuỳ theo cách họ đối xử với những người nghèo đang ở xung quanh trong xã hội, đã tự ấn định mình là chiên hay dê khi ra trước toà Chúa.

Nội dung ngày chung thẩm giúp Gia đình Vinh Sơn chúng ta nhiều điều suy niệm:  

1. Cả chiên lẫn dê đều ngạc nhiên sửng sốt khi Chúa khen thưởng và ra án phạt. “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40-45). Lời tuyên bố giữa thưởng và phạt chỉ khác nhau bằng một chữ Không: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy”.

2. Các chiên ngạc nhiên và liệt kê ra các hoàn cảnh và mỗi hoàn cảnh với những lối phục vụ khác nhau. Chiên bác ái mà lại không biết việc ấy là cho Chúa. Còn các dê thì sau khi đã nghe Chúa trả lời cho chiên hết sức rõ ràng, vậy mà vẫn giả điếc. Họ biểu lộ sự ngạc nhiên, và lập lại “y chang” câu hỏi: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù, mà không phục vụ Chúa đâu?”. Nhưng với hàm ý khác. Chiên chỉ nghĩ là mình đã giúp kẻ khó khăn quanh mình thôi, chứ nào có giúp Chúa. Dê thì to miệng minh oan: “Nào có thấy Chúa đâu mà giúp!” Ý muốn nói: “Muốn giúp Chúa lắm. Có điều chẳng gặp Chúa bao giờ mà giúp!”

3. Điều thú vị đầu tiên đáng làm chúng ta ngạc nhiên là, những hành vi bị đem ra đối chất vào ngày chung thẩm: “đói, khát, khách lạ, trần truồng, đau yếu hay ngồi tù” giống hệt với kinh Thương xác 7 mối vẫn được đọc vào Chúa Nhật “Cho kẻ đói ăn – Cho kẻ khát uống –Cho kẻ rách rưới ăn mặc – Viếng kẻ tù rạc – Cho khách đỗ nhà – Chuộc kẻ làm tôi- Chôn xác kẻ chết… Không thấy nói đến thương linh hồn 7 mối? Linh đạo Vinh Sơn đâu có tách hồn ra khỏi xác. Kitô giáo là đạo cứu độ chứ đâu phải cứu trợ, cứu đói. Chìa khoá để hiểu đoạn Tin Mừng chung thẩm rõ ràng nằm ngay câu khẳng định: “là các con làm cho chính Ta” (Mt 25,40). Có thế mới lý giải được sự ngạc nhiên của cả chiên lẫn dê: “Làm điều tốt cho một người bé mọn là làm cho chính Chúa”.

4. Chiên kể ra từng hành động cụ thể cho từng trường hợp: “đói mà cho ăn, khát mà cho uống, khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà cho mặc, đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến hỏi han”. Dê lại chỉ dùng một động từ “phục vụ” cho tất cả mọi trường hợp. Dê nghèo nàn trong cách ứng xử với tình cảnh của người chung quanh đang lâm cảnh ngặt nghèo. Họ chỉ biết “phục vụ”- ministrare-minister. Động từ ministrare được bản Vulgata sử dụng cũng lại cho chúng ta thấy được cái nguyên ủy của khác biệt giữa chiên và dê.

Động từ latinh “ministrare, minister” có nghĩa “phục vụ” hay “trợ giúp” Dịch theo nguyên nghĩa hơn, “minister- ministrer” còn có nghĩa “thi hành một thừa tác vụ”. Nhưng theo thời gian nó lại trở nên nghia nghĩa: vừa có nghĩa “trợ giúp” vừa có nghĩa là “làm mục sư, làm quản xứ”. Khi thêm nhiều cao vọng, từ “minister” cho ta danh từ “Minister – Bộ trưởng”! Phải chăng, đó cũng là điều oái oăm và gây nhiều mỉa mai. “Minister” là công việc mang tính cách cai trị nhiều hơn là phục vụ! Dê muốn trở thành “minister- cai quản xứ, làm bộ trưởng ” hơn là “minister- phục vụ” người khác!

Chiết tự chữ “minister” chúng ta thấy có hai bài học: “minis” có nghĩa là “kém hơn”, “ter” là “ba lần” hàm ý dạy rằng người thừa tác, người đầy tớ, người phục vụ phải hạ mình xuống ba lần kém hơn. Vậy mà trong thực tế, minister thường là người đầy ải tôi tớ của mình!

Là con cái cha Vinh Sơn, thật ra chúng ta chẳng dám mơ ước làm những chuyện lớn lao to tác gì mà chỉ đơn giản, nói như Sr Rosalie Rendue, được làm một một bóng cây, một tảng đá ven đường, để khách bộ hành mệt nhọc có thể dừng lại tìm chút nghỉ ngơi trong cuộc đời lữ hành hy vọng. Nhờ lời chuyển cầu của thánh Vinh Sơn, xin Chúa luôn ban ơn giúp sức để mỗi chúng ta có thể chu toàn bổn phận mình trong tình yêu theo thánh ý Chúa. Để sau khi hoàn tất tốt đẹp cuộc đời này, tất cả chúng ta hân hoan nghe tên mình được xướng trong hàng ngũ những người được Chúa Cha chúc phúc: vì khi ta đói các ngươi đã cho ăn, ta khát các ngươi đã cho uống, ta rách các ngươi đã cho mặc, ta bị tù đày,…

LIÊN KẾT, HIỆP NHẤT VÀ CỘNG TÁC ĐỂ CÙNG NHAU LO CHO ƠN CỨU ĐỘ NGƯỜI NGHÈO

Cộng tác là gì?

Theo Từ điển, từ “cộng tác” có nghĩa là nỗ lực của hai hoặc nhiều người cùng làm việc với nhau nhằm đạt được một mục tiêu đặc biệt. Các từ khóa ở đây là ‘làm việc‘ và ‘cùng nhau‘. Có nghĩa là làm việc cùng hoặc làm việc cùng nhau, cùng nỗ lực chung, cùng nhau làm việc để đạt được một mục tiêu chung trong một dự án cụ thể.

Nền tảng Kinh Thánh

Sự cộng tác là cùng nhau làm việc bắt nguồn từ Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa khi Ngài phán: “Chúng ta hãy làm nên con người như hình ảnh Ta…” (St 2,26). Trong Tân Ước, Chúa Giêsu đã dành cả cuộc đời mình để xây dựng một tập thể hợp tác. Lời mời gọi làm môn đệ của Ngài, “Hãy theo ta, và ta sẽ khiến các ngươi trở thành những tay lưới người” (Mt 5,19), là một lời kêu gọi cộng tác.

Thánh Vinh Sơn và sự cộng tác

Thánh Vinh Sơn (1581-1660), theo gương Chúa Giêsu, rất giỏi trong việc tập hợp nhiều nhóm người khác nhau làm việc cùng nhau. Ngài dùng mọi phương tiện để khơi dậy trong họ sự nhạy cảm đối với người nghèo, hiện thân của Chúa Kitô. Bất chấp sự khéo léo trong đổi mới của mình, Thánh Vinh Sơn vẫn hiểu rõ sự cần thiết của sự cộng tác trong cách tiếp cận công việc và dự án của mình. Ngài thường gọi hay đặt tên cho các tổ chức do ngài thành lập là “hội huynh đệ”, “tu hội” hoặc “tu hội nhỏ”, không chỉ vì quy mô mà còn vì lý do cộng tác sẽ làm phong phú thêm sứ mạng bác ái của ngài.

      Niềm đam mê của cha Vinh Sơn đối với người nghèo và sự khiêm nhường sâu sắc chắc hẳn đã bật mí cho ngài rằng để phục vụ người nghèo được tốt hơn thì “tổ chức và mạng lưới” là hết sức quan trọng. Thật vậy chúng ta đang ở thời kỳ hiện đại của kết nội mạng hôm nay nhưng thánh Vinh Sơn ở giữa thế kỷ 17 đã là bậc thầy, là bất khả chiến bại khi nói đến tổ chức và kết nối mạng. Ngài nhận ra rằng việc truyền giáo và phục vụ người nghèo hiệu quả đòi hỏi phải có cộng tác và tổ chức. “Người nghèo đôi khi chịu đau khổ nhiều vì thiếu sự giúp đỡ có tổ chức, hơn là vì thiếu những con người bác ái” (SV.XIII,423). Và để đạt được mục tiêu này, ngài cộng tác với gia đình De Gondi, kêu gọi các ân nhân, rồi qui tụ các thiện nam tín nữ để thành lập nhiều nhóm giáo dân “tổ chức từ thiện” và thành lập 2 hiệp hội AIC và Các Ông Bác Ái (hội này không sống lâu) và 2 Tu hội Truyền Giáo và Nữ Tử Bác Ái. Rồi sau này, được truyền cảm hứng từ Rosalie Rendue (1786-1856), một NTBA phục vụ người nghèo, Frederic Ozanam (1813-1853) đã sáng lập Hiệp hội Thánh Vinh Sơn Phaolô. Rồi đến 1847, từ mệnh lệnh của Đức Mẹ với thánh nữ Catherine Labouré, một tập sinh NTBA năm 1830 mà Giới trẻ con Đức Mẹ được thành lập.

Thánh Vinh Sơn là một người cộng tác và sáng tạo, chính đặc nét này đã đưa ngài đi trước thời đại. Ngài là một con người ở ngã ba đường, một con người của sự thay đổi và là người đi trước cho “sự lựa chọn dành cho người nghèo”. Ngài kêu gọi mọi người cùng với ngài “giúp đỡ người nghèo bằng mọi cách, dấn thân làm việc đó và tranh thủ sự giúp đỡ của người khác”. Dụ ngôn người Samaritano nhân hậu (Lc 10,25-37) với những dự án: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn trong yêu thương phục vụ đã được cha Vinh Sơn yêu thích vì nó là mô mẫu của mỗi thành viên và gia đình vinh sơn.

Thánh Vinh Sơn rất khiêm tốn và điều này khiến ngài phải cậy nhờ kêu gọi người khác giúp đỡ trong mọi dự án của mình. Ngài không ảo tưởng và duy ý chí, duy tâm để nghĩ rằng với ơn Chúa thì tự mình ngài có thể làm điều đó. Nhưng ngài luôn tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa và sự cộng tác với những người khác “tận nhân lực tri thiên mệnh”. Ngài cũng không thuộc type “người thông minh thường có lối đi riêng”, để đi đến thái độ hợp tác kém, đố kỵ cao, tự cho mình là vĩ đại!

Thánh Vinh Sơn cũng giống thánh Phaolô là tìm thấy sức mạnh của mình khi nhận ra những giới hạn của mình “khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh”. Ngài thành công nhờ tín thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa, nỗ lực của bản thân và đặc biệt biết cộng tác với các cộng tác viên để cùng nhau phục vụ người nghèo cả về hồn lẫn xác. Ngài thực sự đã đi trước thời đại, một mẫu gương cho chúng ta hôm nay.

HIỆP NHẤT VÀ CỘNG TÁC THEO THÁNH VINH SƠN

I. NGƯỜI NGHÈO LÀ TÁC NHÂN CHÍNH LIÊN KẾT CHÚNG TA

      Theo thánh Vinh Sơn, người nghèo không chỉ là những người cần được giúp đỡ mà còn là thầy và là hình ảnh của Chúa Kitô, qua đó liên kết chúng ta lại trong tình yêu thương và lòng bác ái. Theo Ngài việc phục vụ người nghèo chính là cách chúng ta gặp gỡ và phục vụ chính Chúa, đồng thời cứu lấy tâm hồn mình qua chứng tá đức tin sống động hằng ngày. Ngài xác quyết “Thiên Chúa yêu thương người nghèo, vì thế Người cũng yêu thương những ai yêu thương người nghèo” (SV. XI,392). Chính vì thế mà “Sống đừng nghĩ tới câu chuyện riêng của đời mình, nhưng hãy nghĩ đến câu chuyện của người nghèo và của cộng đoàn” (SV. I,185), và “Hãy liên kết và hiệp nhất với nhau để cùng lo cho ơn cứu độ người nghèo” (SV. XIII,204). Chúng ta cám ơn Chúa, cám ơn người nghèo đã liên kết chúng ta, cũng vì thế mà chúng ta có mặt hôm nay. Lời Chúa vẫn còn vang vọng “Không phải anh ta đã phạm tội, cũng không phải cha mẹ anh ta, nhưng là để công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh” (Ga 9,3). Tỏ hiện bằng cách nào?

II. ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN TRONG HOẠT ĐỘNG

Thánh Vinh Sơn đã vén mở cho chúng ta về tầm quan trọng của cầu nguyện trong các chiều kích hoạt động: “Hãy cho tôi một người cầu nguyện, người đó có thể làm mọi sự; người đó có thể nói như thánh Tông đồ; “tôi có thể làm mọi sự trong Đấng đỡ nâng và ban sức mạnh cho tôi” (SV.XI,76). “Đời sống tông đồ không loại trừ việc chiêm niệm, nhưng đời tông đồ bao gồm việc chiêm niệm, nhờ đó mà hiểu biết hơn những chân lý vĩnh cửu mà đời tông đồ phải công bố” (SV. III,344). 

Thánh Vinh Sơn xác tín: “Nhờ nguyện gẫm, nhiều điều tốt lành đã đến với chúng ta. Nếu chúng ta kiên vững trong ơn gọi, chính là nhờ sự nguyện gẫm; Nếu chúng ta thành công trong công việc chính nhờ nguyện gẫm; Nếu chúng ta không sa ngã phạm tội chính là nhờ nguyện gẫm; Nếu chúng ta ở lại trong bác ái chính là nhờ nguyện gẫm; Nếu chúng ta được cứu chuộc, tất cả là nhờ Chúa và nhờ nguyện gẫm. Như Thiên Chúa không từ chối gì trong nguyện gẫm, thì Ngài cũng không ban gì mà không qua nguyện gẫm…Vậy nên, chúng ta hãy xin Chúa cách thật khiêm tốn giúp chúng ta nuôi dưỡng việc thực hành này” (SV. XI,361). 

“Ôi lạy Chúa! Xin ban cho con ơn được Tình Yêu của Chúa in sâu rõ ràng trong tim con, và điều đó có thể trở nên sự sống cho đời con và trở nên linh hồn mọi hành động của con, xin cho nó cũng xuất hiện ra bề ngoài của con, thì con cũng sẽ có thể đi vào và làm việc trong các tâm hồn của những người mà con sẽ gặp gỡ” (SV.XII,215).

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói: “Tương lai của việc truyền giáo phần lớn lệ thuộc vào việc chiêm niệm. Nhà truyền giáo nếu không phải là một người chiêm niệm thì họ không thể nào loan truyền Chúa Kitô một cách khả tín được” (RiM, 91). Và Đức Phanxicô cũng nhắc chúng ta “Không có kinh nguyện, tất cả các hoạt động của chúng ta có nguy cơ không còn sinh hoa trái, và sứ điệp của chúng ta thành trống rỗng” (Evangelii Gaudium, 259).

 III. ĐỨC BÁC ÁI VÀ KHIÊM NHƯỜNG LÀ NỀN TẢNG ĐỂ LÀM VIỆC CHUNG

Từ agape trong tiếng Hy Lạp thường được dịch là “Đức bác ái” trong Tân Ước. “Tình yêu agape” khác với các loại tình yêu khác như thế nào? Bản chất của tình yêu agape là thiện chí, sự tử tế và niềm vui tự nguyện trong đối tượng của tình yêu. Từ Agape không được sử dụng trong Tân Ước để chỉ tình yêu lãng mạn hoặc tình dục (eros). Nó cũng không đề cập đến tình bằng hữu hay tình anh em (philia). Tình yêu agape liên quan đến sự chung thủy, cam kết và một hành động của ý chí. Nó được phân biệt với các loại tình yêu khác bởi bản chất đạo đức cao cả và đặc tính mạnh mẽ của nó. Tình yêu Agape được mô tả rất đẹp trong 1 Côrintô 13. Tóm lại, Agape là:  Yêu vô điều kiện: Yêu thương không đòi hỏi hay mong chờ được nhận lại;  Hành động của ý chí: Là sự cam kết trung thành và lòng tốt có chủ ý, không phụ thuộc vào cảm xúc yêu ghét cá nhân; Tình yêu thiêng liêng: Trong Kinh Thánh, đây là cách gọi tình yêu mà Thiên Chúa dành cho nhân loại và cũng là tình yêu mà Kitô hữu có với nhau.

Thánh Vinh Sơn đã khẳng định và căn dặn chúng ta: “Đức ái là mối dây gắn kết các cộng đoàn với Chúa và các thành viên với nhau” (SV. II,374); “Nơi đâu thiếu bác ái thì thiếu sự hiệp nhất và do đó chẳng hề có cộng đoàn, vì điều duy trì cộng đoàn, chính là mối liên kết các con tim” (SV. IX,363); “Nơi đâu có đức ái, ở đó là Thiên đàng. Đức ái là linh hồn của các nhân đức” (SV. XI,2).

Theo thánh Vinh Sơn, đức khiêm nhường chính là nền tảng của sự cộng tác, làm việc chung: “Chúng ta hãy hạ mình xuống và, đang khi làm việc giúp đỡ những người khác, hãy cố gắng làm cho chúng ta nên đẹp lòng Chúa và đẹp lòng những người chúng ta đang chung sống” (SV. IV,448); “Các con ơi, các con hãy xem Thiên Chúa chỉ là một; và nơi Người là Ba Ngôi, không phải Chúa Cha lớn hơn Chúa Con, cũng không phải Chúa Con lớn hơn Chúa Thánh Thần, các con cũng phải như thế” (SV. XIII,633).

            “Thật vậy, tôi hy vọng rằng cộng đoàn sẽ phát triển ngày một tốt hơn, vì nếu một người khác làm đầu cộng đoàn, thì cha vẫn luôn là con tim của cộng đoàn. Vậy, cha ơi, cha hãy tiếp tục có một trái tim của đứa con đối với cộng đoàn, cũng như trái tim của một người cha, qua sự kính trọng và sự vâng phục bề trên và việc thực hiện những nhân đức khác làm hiệp nhất các con tim và là những nhân đức riêng của nhà truyền giáo đích thật” (SV. IV,112). “Sự vô ơn là tội ác lớn nhất trong các tội ác” (SV. VIII,37).

IV. HIỆP NHẤT ĐỂ CÙNG LÀM VIỆC CHUNG

Thánh Vinh Sơn đề cao tinh thần làm việc chung, xem đó là mục tiêu cốt lõi trong công việc phục vụ người nghèo, bắt nguồn từ sự hiệp nhất trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Ngài đã thiết lập nên các tổ chức bác ái để quy tụ và cùng nhau thực hiện sứ vụ của Chúa, như là “một tâm hồn và một tinh thần”. 

              Thánh Vinh Sơn cho thấy sự hiệp nhất xuất phát từ Chúa Ba Ngôi: “Điều gì đã làm nên và duy trì sự hiệp nhất giữa Cha và Con? đó chính là: Sự gì Cha muốn là Con muốn, và cả hai rất mực đồng tâm nhất trí: không bao giờ Con muốn điều mà Cha không muốn và sự hiệp nhất hoàn hảo ấy đã nhiệm xuất Ngôi Ba là Chúa Thánh Thần. Và chính đó là thiên đàng. Sẽ không có thiên đàng nếu không có sự hiệp nhất linh thiêng này” (SV. X,383, 02/12/1657).

              “Các con hãy sống cùng nhau như chỉ có một tấm lòng và một tâm hồn, để nhờ sự hiệp nhất tâm trí này, chúng con sẽ là một hình ảnh đích thật về sự hiệp nhất của Thiên Chúa,… Cha cầu xin Chúa Thánh Thần cho việc hiệp nhất này, Đấng là sự hiệp thông của Chúa Cha và Chúa Con, xin cho sự hiệp nhất của chúng con cũng được vậy, xin Chúa ban cho chúng con sự bình an sâu đậm trong những trở ngại và những khó khăn” (SV. IV,235).

              “Vì danh Chúa, xin anh em hãy làm mọi việc có thể để làm cho sự hiệp nhất ngày thêm vững chắc và thân tình hơn đến muôn đời. Xin anh em hãy nhớ châm ngôn của người La mã, đó là: “Nhờ sự hiệp nhất và nhờ sự quyết định cân nhắc kỹ người ta sẽ thành công mọi sự” (SV. IV,364).

Cha Vinh Sơn tha thiết mời gọi: “Anh em hãy hiệp nhất và Chúa sẽ chúc phúc cho anh em; nhưng chớ gì sự hiệp nhất là do bởi tình yêu của Đức Giêsu Kitô. Mọi sự hiệp nhất mà không được gắn kết bởi máu của Đấng Cứu Độ không thể tồn tại. Chính trong Đức Giêsu Kitô, nhờ Đức Giêsu Kitô và vì Đức Giêsu Kitô mà anh em phải hiệp nhất với nhau. Tinh thần của Đức Giêsu Kitô là một tinh thần hiệp nhất và bình an; làm sao anh em có thể lôi cuốn các linh hồn về với Đức Giêsu Kitô nếu anh em không hiệp nhất với nhau và với Chúa? Việc ấy không thể được. Vậy anh em hãy có cùng một tâm tình và cùng một ý chí.

Sự hiệp nhất được so sánh như những con ngựa,chúng được buộc vào cùng một cái xe, những con này kéo xe đi phía này, những con khác kéo đi phía kia, thế là chúng sẽ làm hỏng và sẽ bẻ gẫy mọi thứ. Thiên Chúa kêu gọi anh em làm việc trong vườn nho của Người; anh em hãy đi, hãy chỉ có một con tim, một ý hướng trong Chúa và, nhờ phương thế này, anh em sẽ mang lại nhiều hoa trái” (Abelly II,145).

“Các con phải chào hỏi nhau, vì tất cả các con đều là đền thờ của Thiên Chúa” (SV. IX,150). “Tất cả chúng ta coi mình như là con cùng một Cha, Đấng đã thương yêu tất cả chúng ta và đã chọn chúng ta phục vụ Người nơi bản thân những người nghèo” (SV. IX,263). “Chúng ta phải quí mến nhau thật nhiều, với cái nhìn đây là những con người mà Chúa đã đoái nhìn lôi cuốn họ vào việc phục vụ thánh thiêng của Người; lòng quí mến sản sinh ra sự tôn trọng” (SV. IX,265).

                 “Thật là xấu hổ cho chúng ta, nếu chúng ta lơ là bổn phận ra đi giúp các tâm hồn nghèo khó! Bởi chúng ta đã hiến dâng đời chúng ta cho công việc đó và Chúa đã tin tưởng chúng ta” (SV.XI,122). 

Tinh thần cộng tác của Gia Đình Vinh Sơn thể hiện qua việc lập ra các tổ chức để phục vụ người nghèo, huấn luyện và huy động những người có khả năng, và thúc đẩy sự hiệp nhất giữa nhiều nhóm người để cùng chung tay thực hiện sứ mệnh. Thánh nhân tin vào sức mạnh của sự liên kết và sự phối hợp hành động. Những hoạt động của chúng ta hôm nay đều dựa trên tinh thần cộng tác của Thánh Vinh Sơn:

1. Xây dựng các cộng đoàn và tổ chức:

Ngài đã thành lập Hội Các Bà Bác Ái, Các Ông Bác Ái, Tu hội Truyền Giáo, Tu Hội Nữ Tử Bác Ái… Cung cấp sự hỗ trợ và huấn luyện cho các giáo sĩ, giúp họ có đời sống gương mẫu hơn. 

2. Huy động nguồn lực và con người:

(1) Quyên góp tài chính: từ người giàu có để cứu trợ người nghèo, bệnh tật, và chuộc nô lệ; (2) Huy động các thành viên: của các Tu Hội tham gia vào công việc cứu trợ khẩn cấp, như trong các cuộc chiến tranh, dịch bệnh; (3)Sử dụng nguồn tài chính hiệu quả: Số tiền quyên góp được dùng để xây dựng bệnh viện, cứu trợ nạn nhân chiến tranh và chuộc nô lệ, cho thấy cách sử dụng tài chính một cách mục đích và hiệu quả; (4) Thúc đẩy sự hợp tác liên ngành và liên xã hội:Tạo ra sự phối hợp giữa hoạt động cầu nguyện và hành động, giữa đời sống nội tâm và việc phục vụ người nghèo; (5) Đưa người nghèo đến tự lực: Khuyến khích người nghèo tham gia làm việc để tự kiếm sống, thay vì chỉ nhận sự cứu trợ. 

3. Tầm nhìn toàn diện và thích ứng với hoàn cảnh:

  • Nhìn nhận rằng việc phục vụ người nghèo đòi hỏi sự cộng tác của nhiều người và nhiều hình thức khác nhau, từ cứu trợ vật chất đến chăm sóc tinh thần; (2) Luôn thích ứng với các tình huống khẩn cấp, như chiến tranh hay thiên tai, để có thể nhanh chóng đáp ứng nhu cầu của người nghèo.

4. Học tập và đào tạo cộng tác viên: 

Không thể có sự hợp tác đích thực nếu không được đào tạo thích hợp. Chúng ta không thể cộng tác với những người mà chúng ta không biết rõ. Trước tiên chúng ta cần hiểu nhau và tìm hiểu các nguyên tắc phối hợp với nhau. Việc đào tạo bao gồm nhu cầu thay đổi tâm hồn; nhu cầu nhìn nhận những ân sủng và tài năng của người khác trong việc cổ võ triều đại Thiên Chúa; nhu cầu liên lạc và xác định các thành viên khác trong Gia đình làm việc tại địa phương của chúng ta vì một mục đích cụ thể cũng như nhu cầu tìm hiểu và chia sẻ câu chuyện của nhau. Việc đào tạo trong Gia đình Vinh Sơn giúp chúng ta cởi mở và khiêm nhường. Nó cho phép chúng ta nhạy cảm với người khác. Nó giúp chúng ta làm theo cách “của chúng ta” chứ không phải theo cách “của tôi”. Nó khiến chúng ta nhận biết và chấp nhận lịch sử của từng ngành và những sợi dây chung gắn kết chúng ta lại với nhau.

V. NHỮNG ĐIỀU GÂY NGUY HẠI CHO SỰ HIỆP NHẤT LÀM VIỆC CHUNG

              Sự dèm pha: “Sự dèm pha là một thói xấu, là nguồn gốc của sự chia rẽ, và là nọc độc giết hại các cộng đoàn” (SV. XII,105).

              Lời nói xấu: “Lời nói xấu thường làm tổn hại những người nghe cũng như những người đặt điều nói xấu, bởi vì chúng sẽ không làm sự dữ nào khác hơn là làm cho tâm trí phải lo lắng, và đưa ra chủ đề cám dỗ nói và viết những điều nói xấu cho người khác biết” (SV. III,502).

              Sự ganh tỵ: “Tai họa trong các cộng đoàn, nhất là những cộng đoàn nhỏ, thông thường là sự ganh tỵ. Thuốc chữa chính là đức khiêm nhường mà con phải tiến bộ về nhân đức này, cũng như về các nhân đức khác cần cho sự hiệp nhất. Chúng ta biết rằng sự ganh tỵ này đã xảy ra trong cộng đoàn đầu tiên của Hội Thánh, đó là cộng đoàn các tông đồ; nhưng chúng ta cũng biết rằng Chúa chúng ta đã dẹp đi, vừa bằng lời nói, hạ xuống những kẻ muốn đưa mình lên, vừa bằng gương của Người, chính Người tự hạ trước. Nếu anh em của cha kiêu căng, hoặc nổi giận, hoặc sống bừa bãi, cha không được bằng lòng với việc cảnh báo họ với lòng bác ái, khi cần thiết, nhưng con hãy làm những việc trái ngược, nhờ đó họ sẽ được thôi thúc cách nhẹ nhàng làm theo con” (SV.V,582-583).

              Tính kiêu ngạo: Người ta nói hai tên cướp có thể ở với nhau, nhưng hai người kiêu ngạo thì không thể.

VI. LÃNH ĐẠO THEO TINH THẦN CỦA THÁNH VINH SƠN

              “Để dạy các con học cách lập luận về các công việc, cha xin nói với các con rằng khi các việc được đưa ra bàn luận, trước hết phải ngắm nhìn mục đích: (1) mục đích này phải là vinh quang Thiên Chúa, (2) sau đó là lợi ích và thiện ích của Tu Hội, (3) rồi đến lợi ích của những người mà chúng ta phục vụ và tiếp xúc” (SV.XIII,629). “Tìm kiếm các lời khuyên, nên biết rằng Thiên Chúa nói qua người khác” (SV. IV,35).

              Tài lãnh đạo và lời nói có sức thuyết phục của thánh Vinh Sơn được thầy Ducournau, thư ký của thánh Vinh Sơn, chứng thực như sau: “Dù khi cha Vinh Sơn nói về những điều bình thường, thì mọi người đều biết rằng cha nói với một sức mạnh khôn tả; nhờ tài hùng biện và ơn sủng linh hoạt ngài, để bàn thảo những việc vô vị nhất bằng một lòng đạo đức mà ngài luôn luôn đánh động các khán giả, in trong tâm hồn họ sự kính trọng và sự chú tâm kính cẩn đối với tất cả những gì liên quan đến Thiên Chúa, đến lòng yêu mến Quy luật và những thực hành trong nhà. Đó là chính lý do mà mỗi người đã rất chú ý khi ngài nói, nhiều người đã thích nghe ngài, và những ai vắng mặt thường tìm biết những gì ngài đã nói, tỏ ra tiếc đã không có mặt…Ngài là ai mà nói những điều ngài đã nói với một sự phân định như thế, một hiệu quả, và bằng một tình mến tự nhiên, không phô trương như thế?…ngài là người thủ lãnh được Chúa chọn để phả tinh thần và sức sống cho các thành viên của Tu Hội” (SV. XI,29-30). 

“Chúng ta phải luôn luôn quy về Chúa mọi thiện hảo được làm qua trung gian của chúng ta; và qui trách về mình tất cả những tệ hại xảy ra trong cộng đoàn. Đúng vậy, hãy nhớ rằng tất cả những hỗn độn xảy đến trong cộng đoàn chủ yếu là do vị đứng đầu, vì sự chểnh mảng hay vì gương xấu của mình, vị ấy đã đem lại sự rối loạn, giống như mọi chi thể thiếu sức sống khi cái đầu không ổn” (SV. XI,347).

“Người nghèo đôi khi chịu đau khổ nhiều vì thiếu sự giúp đỡ có tổ chức, hơn là vì thiếu những con người bác ái” (SV. XIII,423).

VII. PHẢI GIÚP NGƯỜI NGHÈO ĐẠT TỚI ƠN CỨU ĐỘ

                 “Bổn phận chính yếu của các con là làm cho người nghèo nhận biết Thiên Chúa qua việc phục vụ tinh thần mà các con phải thực hiện đối với họ trong khi phục vụ họ về mặt thể xác” (SV. X,476- tháng 05/1658). “Hẳn là phải giúp đỡ người nghèo về mặt thể xác; nhưng thực ra, đó không phải là ý định của Thiên Chúa khi lập Tu Hội, tức là chỉ để chăm sóc về thể xác mà thôi, bởi vì không thiếu người để làm công việc ấy” (SV. X,333, ngày 11/11/1657).

                 “Cần phải suy nghĩ về chính mình: tôi phải phục vụ các bệnh nhân của tôi như thế nào? Phải chăng chỉ về mặt thể xác? Nếu như cho đến bây giờ tôi chỉ nhằm cung cấp lương thực, thuốc men, và những điều khác để hướng tới thể xác, quả thực tôi chưa chu toàn trách nhiệm của mình” (SV. X,333-334).

      “Rao giảng Tin Mừng là làm cho dân nghèo biết Chúa, loan báo Đức Kitô cho họ, nói cho họ biết Nước Trời đã gần và Nước Trời dành cho người nghèo” (SV. XII,79).

KẾT LUẬN:

Để kết luận, chúng ta mượn lời của cha Bề trên Tổng quyền Tu Hội Truyền Giáo nhắn gởi Gia đình Vinh Sơn chúng ta nhân dịp lễ Thánh Vinh Sơn 2026 này:

“…Sự hiệp thông giữa các ngành trong Gia đình Vinh Sơn. Chúng ta vẫn còn một chặng đường dài phải đi cùng nhau, và tôi tin chắc rằng chúng ta có thể làm được. Điều thôi thúc chúng ta không phải là khao khát thống trị, cũng không phải là mối bận tâm bảo vệ không gian riêng của mình, mà là một mong muốn đơn giản hơn và mang tính Tin Mừng hơn, đó là hành động cùng nhau: mỗi ngành mang đến một ân ban và chỉ khi chia sẻ ân ban đó, nó mới trở nên thực sự phong phú. Chúng ta là các chi thể của cùng một thân thể. Hiệp thông, cùng nhau phân định, cộng tác, truyền giáo: đó là những nẻo đường mà Giáo hội hiệp hành chỉ cho chúng ta và mời gọi chúng ta vượt qua những rào cản vẫn còn chia cắt chúng ta.

Tôi xin mỗi nhánh của Gia đình Vinh Sơn xem xét lại chương trình đào tạo thường huấn của mình: các nguồn mạch, lịch sử của mình, và trên hết là khả năng diễn giải lại kinh nghiệm hằng ngày dưới ánh sáng của đoàn sủng và linh đạo Vinh Sơn. Vì thế, tôi khuyến khích việc phát triển, tại mỗi quốc gia và tỉnh dòng, những trung tâm đào tạo Vinh Sơn được hình thành nhờ sự cộng tác của tất cả các nhánh hiện diện trong khu vực: không phải là biểu hiện của một nhánh riêng lẻ, nhưng là mái nhà chung cho mọi người. Khi có thể, cũng hãy xác định một địa điểm cố định, có khả năng đem lại sự liên tục và khả năng hiện diện rõ ràng cho cam kết này, đồng thời xây dựng các chương trình đào tạo hằng năm phù hợp với những nhu cầu thực tế của từng bối cảnh. Nhờ đó, chúng ta có thể cùng nhau tiến bước và đào tạo lẫn nhau, truyền đạt hiệu quả hơn, cộng tác với lòng can đảm và khiêm nhường.

Những thách đố tôi trao phó cho anh chị em không phải là một danh sách các nghĩa vụ, nhưng là lời mời gọi để một lần nữa chúng ta để cho mình được khởi động. Tuy nhiên, chúng ta không được yêu cầu tự mình vươn lên đáp ứng; chúng ta được mời gọi bước đi, và con đường sẽ mở ra khi chúng ta tiến bước. Thánh Vinh Sơn không khởi đầu với một kế hoạch hoàn chỉnh; ngài bắt đầu bằng một cuộc gặp gỡ – với một người nghèo có khuôn mặt và tên gọi – và từ đó, ngài để cho Đức Giêsu viết tiếp phần còn lại. Đó là vẻ đẹp ơn gọi của chúng ta: ơn gọi không đòi hỏi chúng ta phải phi thường, nhưng đòi hỏi chúng ta luôn sẵn sàng. Ơn gọi không hứa hẹn cho chúng ta những con đường dễ dàng, nhưng đảm bảo với chúng ta rằng không một bước chân nào vì người nghèo lại trở nên uổng phí. Vậy, chúng ta hãy tiến bước, không sợ hãi cũng không vội vã, nhưng là cùng nhau…” (trích Thư cha Bề Trên Tổng Quyền-CM, 15/9/2026)

Nguyện xin Chúa mãi ở cùng và tuôn đổ muôn phúc lành xuống trên mỗi thành viên của Gia Đình Vinh Sơn Việt Nam chúng ta, nhờ lời chuyển cầu của cha Thánh Vinh Sơn.

Lm. Phaolô Nguyễn Quang Thanh, CM.