Đại lễ Thánh Vinh Sơn 2026

Đăng ngày: 1 giờ trước

 

Đại lễ Thánh Vinh Sơn 2026

Người môn đệ truyền giáo

qua cuộc đời Thánh Vinh Sơn Phaolô theo tinh thần của Giáo hội Hiệp hành

 

Khi đọc lại lịch sử của Tu hội truyền giáo trong thời kỳ đầu, người ta vẫn còn nhớ về câu chuyện của một trong các nhà truyền giáo đầu tiên tại Madagascar, đó là cha Nicolas Gondree (1620-1649).[1] Người anh em Vinh Sơn này đã để lại một dấu ấn đặc biệt trong tâm hồn của Thánh Vinh Sơn đó là tinh thần môn đệ truyền giáo, một người luôn sống hoàn toàn thuộc về Đức Kitô cả khi sống lẫn khi qua đời. Điều đó được diễn tả khi Thánh Vinh Sơn đã phải rơi lệ khi đọc một lá thư từ một người anh em khác là cha Charles Nacquart, về những ngày cuối đời của người anh em trẻ Nicolas Gondree được gởi về từ madagascar. Người anh em trẻ này mất tại vùng truyền giáo khi mới có 28 tuổi và chỉ trong một thời gian rất ngắn khi vừa đặt chân đến Madagascar.

Nhà truyền giáo này không chết sau khi đã có một thời gian dài lăn lộn trên hành trình truyền giáo, mà đã mất khi độ tuổi còn đang thanh xuân và độ tuổi ơn gọi còn đang rất trẻ. Theo tinh thần của Thánh Vinh Sơn, giá trị của người môn đệ truyền giáo thì không phải đo lường bằng chiều dài của sự dấn thân hay truyền giáo, mà bằng chiều sâu của sự gắn bó trung thành với Chúa Kitô. Cha Armada, CM., đã có những nhận định sâu sắc về lá thư này:“Do đó, lá thư này hé lộ một điều cốt yếu về đặc sủng của Đấng Sáng Lập chúng ta. Ơn gọi truyền giáo của Tu hội chưa bao giờ được xây dựng trên sự an nhàn, an toàn hay thành công theo quan niệm thế gian. Ơn gọi ấy nảy sinh từ sự hiệp thông sâu xa với Chúa Giêsu Kitô, được nuôi dưỡng bằng lòng tín thác vào sự Quan Phòng của Thiên Chúa, và được duy trì nhờ lòng nhiệt thành kiên định trong việc loan báo Tin Mừng cho người nghèo cũng như cứu rỗi các linh hồn. Lời chứng cuối cùng của Cha Gondrée cho thấy rằng đặc sủng truyền giáo này không chỉ là một lý tưởng do Thánh Vinh Sơn giảng dạy, mà còn trở thành hiện thực sống động trong cuộc đời của những nhà truyền giáo tiên khởi. Sự trung thành của họ ngay cả cho đến lúc chết vẫn tiếp tục khơi nguồn cảm hứng cho Tu hội Truyền giáo và nhắc nhở chúng ta rằng tinh thần truyền giáo của Thánh Vinh Sơn Phaolô vẫn sống động và đầy sức thuyết phục trong thời đại ngày nay, cũng như đã từng như vậy vào thế kỷ mười bảy.”[2]

Từ cuộc đời của nhà truyền giáo trẻ Nicolas Gondree, chúng ta cũng được nhắc nhớ để nhìn lại cuộc đời của một con người khác cũng đã sống tinh thần môn đệ truyền giáo này cách triệt để, đó là thánh Vinh Sơn Phaolô, Đấng Sáng Lập và cũng là người môn đệ truyền giáo trung thành với Chúa Kitô cho đến trọn cuộc đời. Hai cuộc đời này có sự khác nhau về tuổi tác, có sự khác nhau về sứ vụ tông đồ, có vai trò khác nhau trong Tu Hội Truyền Giáo, nhưng cả hai đều có chung một cảm thức thuộc về Chúa Kitô và trung thành với Chúa cho đến chết. Những chứng từ môn đệ truyền giáo sống động này đã làm nổi bật chiều kích liên kết giữa đời sống người môn đệ truyền giáo và sự trung thành với Chúa Kitô, mà Dietrich Bonhoeffer đã diễn đạt “Kitô giáo thiếu vắng Đấng Kitô hằng sống, tất yếu là Kitô giáo thiếu vắng tinh thần môn đệ, và Kitô giáo thiếu vắng tinh thần môn đệ luôn là Kitô giáo thiếu vắng Đấng Kitô.”[3] Hai chiều kích không thể tách rời giữa tinh thần người môn đệ và sự hiện diện sống động của Chúa Kitô trong đời sống của mình.

Trong những ngày này, Gia đình Vinh sơn trên toàn thế giới đang cử hành Tuần Cửu nhật chuẩn bị tâm hồn cách sâu sắc cho ngày đại lễ kính Thánh Vinh Sơn Phaolô sắp tới. Nhân dịp này mỗi người được mời gọi để nhìn lại cuộc đời của vị thánh sáng lập của chúng ta và cam kết dấn thân hơn theo con đường linh đạo của ngài.

Nhìn vào cuộc đời của Thánh Vinh Sơn Phaolô, người ta sẽ dễ dàng nhận ra con đường trở nên người môn đệ của Chúa đã diễn ra như thế nào. Con đường để trở thành người một đệ truyền giáo nơi thánh Vinh Sơn Phaolô không phải chỉ là một giai đoạn của cuộc đời, mà là cả một tiến trình dài cho đến cuối đời và là một giai đoạn của sự lớn lên và trưởng thành không ngừng nghỉ trên con đường hoàn thiện. Con đường mà Thánh nhân đã trải qua không phải là con đường xây dựng hình ảnh hay sự thành công cá nhân trong cuộc đời, mà  đó là tiến trình để nên giống như Chúa Kitô hơn mỗi ngày.

Trong cuộc đời người môn đệ, chúng ta sẽ thấy có ba giai đoạn chính yếu mà như Ronald Rolheiser[4] đã phát triển như trong tiến trình của đời sống thiêng liêng:

Môn đệ hóa nền tảng – Nỗ lực vun đắp và ổn định cuộc sống của chính mình.

Môn đệ hóa trưởng thành – Nỗ lực dấn thân và trao đi cuộc sống của mình.

Môn đệ hóa triệt để – Nỗ lực dâng hiến và trao đi cả cái chết của mình.

Trong mỗi giai đoạn này, người môn đệ đều có thể đối mặt với chính thập giá của mình: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16, 24). Mỗi giai đoạn này đều chứa đựng những thái độ được lấy ra từ chính cuộc đời sứ vụ của Chúa Giêsu, Đấng mà các môn đệ muốn bước theo và học hỏi từ chính cuộc hành trình này để nên giống Chúa.

Giai đoạn một: Môn đệ hóa nền tảng – Nỗ lực vun đắp và ổn định cuộc sống của chính mình

Ronald Rolheiser đã chỉ ra các yếu tố cơ bản cho giai đoạn này bao gồm như những nguyên tắc: đời sống cầu nguyện và luân lý; bác ái và công bình; đời sống cộng đoàn Kitô hữu-Giáo hội; tha thứ và khoan dung của con tim; trong giai đoạn này đó chính là Sequela Christi, một người môn đệ cho phép bản thân mình được cam kết đi theo con đường này và trong tương quan với Chúa Giêsu.[5]

Có thể đánh dấu sự khởi đầu giai đoạn này trong cuộc đời Thánh Vinh Sơn bằng một ký ức tuổi thơ của ngài: “Tôi là con trai của một người nông dân chất phác và đã sống ở vùng quê cho đến năm mười lăm tuổi” (CCD IX, 67). Đó là một cuộc sống bình thường như bao đứa trẻ khác tại vùng nông thôn nước Pháp lúc bấy giờ và ngay tại Dax, quê nhà của Thánh Vinh Sơn. Nhưng cũng chính giai đoạn này đánh dấu một cuộc hành trình, mà ban đầu nó dường như là một kế hoạch rất riêng, mà Vinh Sơn và có thể Gia đình mong muốn cho ngài trong tương lai. Con đường thiêng liêng lúc này quy hướng về những ước muốn cá nhân, nhưng trong đó cũng đan xen với việc trở thành một người trong Giáo hội, dù lúc đó con đường dấn thân làm linh mục của Thánh Vinh Sơn vẫn chưa rõ ràng.

Có thể giai đoạn môn đệ hóa nền tảng này của Thánh Vinh Sơn có thể  đạt được ước muốn qua việc ngài được chịu chức linh mục vào ngày 1660 và diễn tiến cho đến 1617.[6] Đây là giai đoạn chuyển hóa nội tâm sâu sắc và mãnh liệt của Thánh Vinh Sơn, từ việc tìm kiếm tư lợi bản thân và gia đình, ngài đã dần chuyển qua việc nhận biết bước theo Chúa Kitô và nhận ra khuôn mặt Ngài nơi người nghèo. Chẳng hạn, đó là sự phân định về thiên chức linh mục mà chính ngài đã chia sẻ kinh nghiệm của mình “Nếu biết rõ bản chất của nó khi tôi liều lĩnh bước vào như tôi đã thấu hiểu về sau này thì thà rằng đi cày xới đất đai còn hơn là dấn thân vào một lối sống đầy cam go đến thế” (CCD V, 569). Kinh nghiệm này làm cho Thánh Vinh Sơn phải suy nghĩ và phân định chắc chắn hơn về ơn gọi của thiên chức linh mục dù ngài đã đang thi hành sứ vụ đó. Nó có nghĩa là Thánh Vinh Sơn phải đặt thánh chức này trong chiều kích phân định thiêng liêng, hơn là trong chiều kích thăng tiến trong xã hội hay giáo hội. Vì thế ngài đã lập đi lập lại nhiều lần trong các bài giảng và bài nói chuyện của mình về việc phân định ơn gọi và phải chắc chắn rằng ơn gọi đó phải đi từ chính Chúa. Và Thánh Vinh Sơn đã trải qua nhiều biến cố khác nhau của sứ vụ và những biến cố đó đã dẫn Thánh Vinh Sơn đến sự thay đổi và chọn lựa. Tiếp tục con đường của bản thân hay là để cho Chúa dẫn đi theo thánh ý của Ngài mà sau này như thánh nhân thổ lộ” “Bí quyết lớn lao của đời sống thiêng liêng là từ bỏ tất cả những gì chúng ta yêu thương cho Chúa bằng cách phó thác bản thân cho tất cả những gì Ngài muốn, với niềm tin tuyệt đối rằng mọi việc sẽ diễn ra tốt đẹp nhất (CCD VIII, 298). Con đường môn đệ hóa của giai đoạn này là Thánh Vinh Sơn chấp nhận đi theo Chúa, để cho Chúa hướng dẫn cuộc đời mình.

Giai đoan hai: Môn đệ hóa trưởng thành- Nỗ lực dấn thân và trao đi cuộc sống của mình

Đây được coi như giai đoạn trong cuộc đời công khai rao giảng của Đức Kitô. Cho nên người môn đệ trong giai đoạn này cũng trở nên sối nổi mãnh liệt và dấn thân không ngừng nghỉ. Ở giai đoạn này Ronald Rolheiser đã chỉ ra đây là một giai đoạn năng động và đôi khi phải đối diện với các cuộc đấu tranh: quay trở lại giai đoạn chưa trưởng thành; nghiện công việc đến mức kiệt sức; oán giận hay bực bội, thất vọng từ công việc; cay đắng; Chính vì thế trong giai đoạn này Ronald đã thấy rằng, người môn đệ truyền giáo cần phải có những thái độ: nhận ra sự hiện diện của Chúa trong chính cuộc đời mình- đó chính là con đường lên Giêrusalem và cũng là trên con đường Emmau;[7] thái độ của nhân đức trung tín hay kiên định; phục vụ cách nhưng không, không phân biệt chủng tộc, văn hóa; hóa mình ra không, làm trống rỗng chính mình và có khả năng cân nhắc như Đức Mẹ và cuối cùng là cảm thức được chúc phúc, hay điều tốt hơn về người khác.

Giai đoạn này có lẽ cũng là hành trình chính yếu và nổi bật trong cuộc đời của Thánh Vinh Sơn kể từ sau biến cố 1617, sau bài giảng đại phúc đầu tiên và cuộc hoán cải bản thân của Thánh Vinh Sơn dành cho Chúa và cho người nghèo. Giai đoạn này mở ra một con đường dấn thân triệt để của thánh nhân trên con đường ơn gợi qua đặc sủng truyền giáo và bác ái cho người dân nghèo miền quê. Từ đoàn sủng ấy, ngài đã dấn thân không ngừng nghỉ để lan tỏa tinh thần đó cho người khác và cùng cộng tác vào con đường ơn gọi ấy. Có thể điểm lại việc thành lập ba tổ chức đầu tiên: Tổ chức Hiệp hội Bác ái (hay các Bà Bác ái) năm 1617 khởi đầu cho linh đạo ơn gọi Vinh Sơn trong việc phục vụ người nghèo; Tu Hội Truyền Giáo (1625) cho việc truyền giáo và lo việc thiêng liêng của người nghèo ở các làng quê; và Tu Hội Nữ Tử Bác Ái trong việc phục vụ thể lý hay bác ái cách thiết thực cho người nghèo; việc thánh nhân làm tuyên úy chiến thuyền, lập nhà trẻ mồ côi, hay cả việc ngài bị lưu lạc ở xứ Tunisi xa xôi với người Hồi giáo cũng đều là những hành trình thiêng liêng tôi luyện nên tinh thần tông đồ của ngài. Lòng nhiệt thành truyền giáo này cũng đi kèm với nhiêu là các biến cố và sự kiện khác nhau để phục vụ người nghèo, đào tạo chủng viện và mở rộng truyền giáo từ Paris rộng ra khắp nước Pháp và cuối cùng ra ngoài lãnh thổ nước Pháp…

Điều rõ rệt thể hiện con đường môn đệ hóa của Thánh Vinh Sơn là sự gắn bó đời sống với Chúa Kitô, nó được thể hiện qua việc phục vụ người nghèo; nhìn ra khuôn mặt của Chúa Kitô qua khuôn mặt của họ; rao giảng về Chúa Kitô cho người nghèo để họ nhận biết Chúa và vương quốc của Ngài: “Một lý do quan trọng khiến chúng ta thực hiện điều này chính là tầm quan trọng của sứ vụ: làm cho người nghèo nhận biết Thiên Chúa; loan báo Chúa Giêsu Kitô cho họ; và nói cho họ biết rằng Nước Trời đang đến gần và Nước ấy dành cho những người nghèo khó. Ôi, thật là một điều cao cả biết bao! Tuy nhiên, vượt quá sự hiểu biết của chúng ta là việc chúng ta được mời gọi trở thành những cộng sự và những người cùng chia sẻ các kế hoạch của Con Thiên Chúa” (CCD XII, 71). Và rồi con đường nên hoàn thiện qua các việc tông đồ ấy làm cho Thánh Vinh Sơn suy tư rằng: “Sự trọn lành hệ tại ở lòng kiên trì không ngừng nghỉ để đạt được các nhân đức và trở nên thành thục trong việc thực hành chúng; bởi lẽ, trên con đường của Thiên Chúa, không tiến bước nghĩa là thụt lùi, vì con người không bao giờ dậm chân tại chỗ” (CCD II, 146). Là người môn đệ hành trình đi theo Chúa luôn dấn thân cách triệt để và không ngừng nghỉ.

Giai đoạn thứ 3: Môn đệ hóa triệt để – Nỗ lực dâng hiến và trao đi cả cái chết của mình

Giai đoạn này tương ứng với cuộc khổ nạn của Chúa, cái chết và sự phục sinh của Ngài. Giai đoạn này đánh dấu một thời kỳ không phải bởi những gì Chúa đang làm mà là những gì người ta đã làm cho Ngài. Thách đố lớn nhất trong giai đoạn này là sự gắn kết. nó là giai đoạn phải từ bỏ ý riêng mình và để cho Chúa làm chủ và điều khiển cuộc sống mình.

Cụ thể cho giai đoạn này, trước hết là chương trình truyền giáo của Thánh Vinh Sơn. Có những chương trình truyền giáo quá lớn lao và thậm chí nguy hiểm, đến nỗi nhiều anh em trong Tu hội phản đối, nhưng Thánh Vinh Sơn vẫn cương quyết tiếp tục sứ vụ đó. Điều này như là một sự dấn thân triệt để mà Thánh Vinh Sơn muốn các anh em mình sống trong ơn gọi truyền giáo Vinh Sơn. Nó đòi hỏi phải ra đi khỏi cái nơi quen thuộc của mình, trong sứ vụ này dường như nó mạnh mẽ như một cơn bão táp mà như người ta nói “ad gentes, ad extranos và ad vitam” (đến với muôn dân, đi ra khỏi quê hương và dấn thân trọn đời). Và những tâm tình này đã được thốt ra từ trong tim của Thánh Vinh Sơn “Bản thân tôi, dù đã già yếu bệnh tật, vẫn phải mang trong mình tâm thế sẵn sàng, thậm chí là lên đường sang tận vùng Ấn Độ để chinh phục các linh hồn về cho Thiên Chúa, dẫu cho tôi có phải bỏ mình dọc đường hay ngay trên tàu (CCD XI, 357).

Phải chăng đó là con đường của người môn đệ mà Thánh Vinh Sơn đã đi và ngài cũng mong muốn tất cả những ai theo ngài cũng bước theo con đường đó. Rõ ràng con đường truyền giáo của Tu hội không phải là con đường mà ở đó người ta thấy vinh quang của con số người được rửa tội hay số các nhà thờ được xây dựng, mà nó có biết bao anh em đã tử đạo hoặc đã mất mạng vì sứ vụ truyền giáo đó. Đó là con đường thập giá của Đức Kitô, con đường của người môn đệ. Cuộc đời theo Chúa không theo từng giai đoạn mà là theo cho đến chết. Đó là con đường để nên giống Chúa. Con đường của lòng nhiệt thành và sự sẵn sàng cho sứ vụ vì đó là con đường của Chúa “thực thi ý muốn của Thiên Chúa trong mọi sự” (CCD II, 47).

Người môn đệ truyền giáo Vinh Sơn trong bối cảnh Giáo hội hiệp hành

Người thừa sai Vinh Sơn là người được kêu gọi, vừa sống ơn gọi phổ quát của bí tích rửa tội như là Dân Thiên Chúa, đồng thời cũng được mời gọi để sống tâm tình của một người đã được lãnh nhận linh đạo Vinh Sơn qua đấng sáng lập là Thánh Vinh Sơn Phaolô. Trong ơn gọi ấy của tâm tình hiệp hành, mà như Văn kiện Chung kết của Thượng Hội đồng Giám mục về tính Hiệp hành đã nhấn mạnh ở chương thứ V, về việc đào luyện các môn đệ truyền giáo: “Dân Thánh của Thiên Chúa cần được đào tạo đúng đắn để họ có thể làm chứng cho niềm vui của Tin Mừng và lớn lên trong việc thực hành tính hiệp hành: trước hết, trong sự tự do của con cái Thiên Chúa khi đi theo Chúa Giêsu Kitô, được chiêm nghiệm trong cầu nguyện và được nhận ra nơi những người nghèo.”[8] Đây là một đặc tính Kitô học mang tinh thần linh đạo Vinh Sơn rất sâu sắc. Đó là hành trình bước theo Chúa của người môn đệ và được mời gọi khám phá ra khuôn mặt của Chúa cả trong cầu nguyện lẫn hành động, tức qua việc phục vụ Ngài nơi người nghèo khổ.

Đồng thời Văn kiện Chung kết về Hiệp hành cũng nhắc nhớ tất cả các người môn đệ truyền giáo rằng “Tuy nhiên, việc trở thành môn đệ truyền giáo của Chúa không phải là một điều đạt được một lần là đủ. Điều này đòi hỏi một sự hoán cải liên tục, lớn lên trong tình yêu ‘để đạt tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô” (Ep 4,13) và biết mở lòng đón nhận các hồng ân của Chúa Thánh Thần để làm chứng cho đức tin một cách sống động và tràn đầy niềm vui.”[9] Hành trình của người môn đệ truyền giáo là hành trình suốt đời và liên lỉ trung thành với Đấng mà mình đang bước theo. Điều này các thành viên Vinh Sơn có thể học được từ chính Đấng Sáng Lập của mình trong hành trình trở nên người môn đệ truyền giáo. Sống trong sứ vụ truyền giáo với niềm vui của tin Mừng và hoán cải liên lỉ cùng với việc canh tân đoàn sủng trong các bối cảnh truyền giáo khác nhau với sự trung thành với Chúa Kitô là yếu tố quan trọng mà chính Thánh Vinh Sơn đã sống và làm gương.

Kết luận

Tuy không thể quy đổi cách chính xác về những thực tại lịch sử với các giai đoạn trưởng thành của đời sống thiêng liêng, hành trình trở thành người môn đệ truyền giáo trong cuộc đời Thánh Vinh Sơn, nhưng Ronald Rolheiser đã giúp chúng ta dễ dàng nhận ra những nét tương đồng và biến chuyển chính yếu trong tiến trình ấy. Hy vọng rằng, như một sự canh tân linh đạo trong bầu khí của Giáo hội hiệp hành, gương của Thánh Vinh Sơn Phaolô tiếp tục thúc đẩy mỗi thành viên sống sâu sắc hơn ơn gọi và linh đạo của mình. Đồng thời ngày càng dấn thân hơn nữa như một người môn đệ truyền giáo trong Giáo hội và Tu hội.

Lm. Phêrô Phạm Minh Triều, CM.

 

 

[1] Armada Riyanto, Nicolas Gondrée’s Final Days As Recounted by Charles Nacquart’s Letter to Saint Vincent de Paul Fort-Dauphin, Madagascar, May 27, 1649. Tài liệu khóa CIF 2026. Đó là lá thư 1104 trong bộ sách của Piere Coste CCD III, 434-444. Địa chỉ được đề cập đến trong lá thư là Dauphin, một cảng biển thuộc miền nam Madagascar.

[2] Ibid,.

[3] Dietrich Bonhoeffer, The Cost of Discipleship (New York: The Macmillan, 1963), 64.

[4] Christtopher Kenneth T. Quimo, “The Stages Christian Discipleship in the Light of Ronald Rolheiser,” Say Pananabangan, (An Interdisciplinary Journey of Philosophy and Theology), volume IV and V, issue 2024, 101-124. Ronald Rolheiser OMI (sinh năm 1947) là một linh mục Công giáo kiêm nhà thần học linh đạo người Canada. Ông là thành viên Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm (Missionary Oblates of Mary Immaculate) và hiện đang giảng dạy tại Trường Thần học Oblate ở San Antonio, Texas. Trong ba giai đoạn này của người môn đệ, mỗi giai đoạn đã được ông triển khai thành một tập sách có tiêu đề khác nhau: Môn đệ hóa nền tảng – Nỗ lực vun đắp và ổn định cuộc sống của chính mình (Ronald Rolheiser, The Holy Longing: The Search for A Christian Spirituality (New York: Image, 2024)); Môn đệ hóa mang tính sinh sôi – Nỗ lực dấn thân và trao đi cuộc sống của mình (Ronald Rolheiser, Sacred Fire: A Vision for A Deeper Human and Christian Maturity (New York: Image, 2014)); Môn đồ hóa triệt để – Nỗ lực dâng hiến và trao đi cả cái chết của mình (Ronald Rolheiser, Insane for the Light: A Spirituality for Our Wisdom Years (New York: Books on Tape, 2025).

[5] Ibid., 110.

[6] Vinícius Augusto Ribeiro Teixeira, “The Paths of God and the Poor: the Spiritual Journey of Saint Vincent de Paul,” tại https://wiki.famvin.org/en/The_Paths_of_God_and_the_Poor:_the_Spiritual_Journey_of_Saint_Vincent_de_Paul (cập nhật 15/09/2026).

[7] Giovanni Cesare Pagazzi, “Theology and Ministry in Asia: Insights from the Synod on Synodality,” Loyola Papers Vol. 6: No. 1, Article 2(2025), 3. Người môn đệ bước đi trên con đường này là từ bỏ một vùng thoải mái (comfort  Zone) để bước vào một vùng đầy nguy cơ (risk zone tại https://archium.ateneo.edu/loyola/vol6/iss1/2 (cập nhật ngày 15/09/2026).

[8] Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ XVI, Văn Kiện Chung Kết, # 141. Tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/van-kien-chung-ket-cua-dai-hoi-thuong-le-lan-thu-xvi-cua-thuong-hoi-dong-giam-muc (cập nhật 15/09/2026).

[9] Ibid., # 142.