Năm Thánh và Công bình xã hội
Michael a. harbin*
Tại Hoa Kỳ, Năm Thánh theo Kinh thánh từ lâu đã gắn liền với các vấn đề công bằng xã hội. Trong thế kỷ 19, trọng tâm là chế độ nô lệ được phản ánh qua một số bài hát thời Nội chiến.[1] Điều này dường như là một mối liên hệ rất hợp lý vì một trong những tiêu chí của Năm Toàn Xá là chỉ thị “sẽ tuyên cáo trong xứ lệnh ân xá cho mọi người sống tại đó” (Levi 25,10 NASB),[2] một cụm từ được nhiều người theo chủ nghĩa bãi nô hiểu là đề cập đến việc giải phóng nô lệ. Cụ thể hơn, cụm từ tiếp theo trong đoạn sách Lêvi là “mỗi người trong các ngươi sẽ trở về phần sở hữu của mình, mỗi người sẽ trở về dòng họ của mình” vào Năm Thánh đã được sử dụng như một lập luận cho việc “phân phối lại của cải”.[3] Ron Sider gọi đây là “Nguyên tắc Năm Thánh” và sử dụng Năm Thánh như một nguyên tắc quan trọng cơ bản cho quan điểm của ông về công bằng xã hội Kitô giáo.[4]
Nguyên tắc Năm Thánh này đã được mở rộng theo một số hướng, có lẽ đáng chú ý nhất là về mặt nợ quốc tế. Chẳng hạn vào Năm Thánh 2000, người ta đã kêu gọi hủy bỏ khoản nợ của thế giới thứ ba vào năm 2000 và tuyên bố rằng vào Năm Thánh theo Kinh thánh, “tất cả các khoản nợ đều được hủy bỏ”.[5] Tương tự như vậy, Mạng lưới Jubilee USA ủng hộ cái mà họ gọi là “Công lý trong Năm Thánh”, được định nghĩa là xóa nợ quốc tế.[6]
Điều này đặt ra một số câu hỏi liên quan đến công bằng xã hội Kitô giáo. Bài viết này chỉ tập trung vào hai điều: “Khái niệm công bằng xã hội này có phải là sự hiểu biết xác đáng về thể chế Năm Thánh Cựu Ước không?” và “Thể chế Năm Thánh Cựu Ước có được áp dụng ngày nay không?”
I. Nguồn gốc của Năm Thánh
Năm Thánh được trình bày trong sách Lêvi 25, 2-46 như một phần của cuộc thảo luận về Năm Sa-bát. Theo Kinh Torah (hay Ngũ thư), Sáng thế ký, Xuất hành và Lêvi được Chúa ban tại Núi Sinai (Lv 27:34).[7] Trong bối cảnh của Kinh Torah, mục đích chính của sách Lêvi dường như là dạy cho các thầy tư tế và dân chúng ý nghĩa về sự thánh thiện của Thiên Chúa, đặc biệt là về cách người dân Israel phải đáp trả.[8] Phản ứng được mong đợi này là một lối sống khác với bất cứ điều gì mà bất cứ ai trong số khán giả tiếp nhận đã trải qua cho đến thời điểm đó, và Năm Thánh chỉ là một khía cạnh của nó. Những khán giả tại Sinai bao gồm người Israel (hậu duệ của Giacóp) và một “đám đông hỗn tạp” (Xh 12:38) đã định cư ở Ai Cập trong nhiều thế hệ. Về bản chất, họ đang thoát ra khỏi chế độ nô lệ hợp đoàn ở Ai Cập và có thể là một nhóm người đang tìm kiếm tự do. Như đã trình bày trong bản văn, vào thời Sinai sẽ không có nô lệ, không có chủ đất, và mặc dù họ không giàu có[9] nhưng không ai có bất kỳ khoản nợ nào.[10] Vì vậy, đó là một nhóm người chưa phát triển bất kỳ sự phân tầng xã hội thực sự nào.[11]Hơn nữa, vùng đất mà nhóm dân cư này đến rất khác với vùng đất họ đã rời đi. Ai Cập mà họ biết là một đất nước bằng phẳng, không có cây cối và được tưới nước bởi sông Nile và lũ lụt của nó. Canaan có nhiều đồi núi, phần lớn là rừng rậm và được tưới nước nhờ lượng mưa. Lịch nông nghiệp cũng khác nhau như một số loại cây trồng.[12]
Mặc dù có khả năng một số người Israel đã trồng trọt ở đồng bằng Ai Cập, nhưng phương pháp tưới tiêu được sử dụng ở đó rất khác với phương pháp canh tác cần có trên đất khô cằn ở Canaan. Vấn đề trở nên phức tạp hơn, vào thời điểm xảy ra cuộc chinh phục thực sự, thế hệ có thể đã làm nông nghiệp ở Ai Cập đã chết hết. Tốt nhất, một số người trong nhóm dưới hai mươi tuổi đến Canaan sẽ có kinh nghiệm làm nông ở Ai Cập hạn chế, nhưng điều đó đã xảy ra cách đây bốn mươi năm trước.[13] Do đó, khi họ vào xứ Canaan và mana không còn nữa (Gs 5:11–12), tất cả đều phải học một hệ thống kinh tế hoàn toàn mới khá nhanh chóng.[14]
Điều quan trọng là Kinh Torah trình bày tình huống của một nhóm dân cư sắp nhận được đất đã phát triển với những cánh đồng đã được dọn sạch, những ngôi nhà được trang bị đầy đủ tiện nghi, những vườn cây ăn trái phì nhiêu và những nhu cầu thiết yếu khác nhau của các nông trại đang hoạt động như lưỡi cày và cối ép ô liu. Trong tình huống này, Kinh Torah đưa ra những hướng dẫn dự đoán những tình huống mà quốc gia phôi thai chưa từng gặp phải. Một số trong số này được trình bày dưới dạng những khả năng phụ thuộc vào cách quốc gia phản ứng với Chúa.[15] Có ý kiến cho rằng Năm Thánh là một trong những sự kiện ngẫu nhiên như vậy.
II. Bản chất của Năm Thánh
Vì luật Cựu Ước đề cập đến các khía cạnh của cuộc sống mà người ta sẽ gặp phải ở nơi mới này nên hạng mục chính là vấn đề tài chính. Như đã trình bày trong Kinh Torah, trong thời kỳ sống trong hoang mạc, tài chính không phải là vấn đề vì thức ăn của họ được cung cấp qua mana và quần áo của họ không bị sờn rách (Đnl 8: 3–4). Tương tự như vậy, khi dân Israel dọn vào miền đất mới, sẽ có rất ít nhu cầu trước mắt. Mỗi gia đình sẽ có thể nhanh chóng xây dựng công việc nội trợ và trồng trọt khi định cư trên vùng đất mà Chúa ban cho. Tuy nhiên, bản văn cũng đoán trước rằng dân chúng sẽ không trung thành theo Chúa.
Mặc dù được diễn đạt như một sự ngẫu nhiên, nhưng người ta cho rằng mọi người sẽ quay lưng lại với Chúa, và hậu quả là sẽ nảy sinh những tình huống trong đó các cá nhân, gia đình, bộ lạc và thậm chí cả quốc gia sẽ gặp khó khăn về tài chính do nhiều nguyên nhân khác nhau.[16] Luật pháp được ban hành tại Sinai (và được nhắc lại trong bờ bên kia sông Giodan trong sách Đệ Nhị luật) đã cung cấp hướng dẫn cho quốc gia về cách ứng phó với những khó khăn này, cả về mặt tập thể lẫn cá nhân.
Nhìn chung, người ta kỳ vọng rằng gia đình và hàng xóm sẽ cung cấp hỗ trợ tài chính cho những người có nhu cầu khi cần thiết.[17] Kinh Torah mô tả hai loại hỗ trợ tài chính: ngắn hạn và dài hạn. Viện trợ ngắn hạn gắn liền với luật về năm Sabát. Viện trợ dài hạn gắn liền với Năm Thánh. Trong Torah, hỗ trợ tài chính ngắn hạn là một khoản vay nhỏ có tài sản thế chấp bao gồm các vật dụng nhỏ như áo choàng. Loại khoản vay này phải được hoàn trả trong thời gian tối đa là sáu năm, tức là vào năm Sabát tiếp theo. Bất kỳ khoản nợ nào không được trả trước năm Sabát đều sẽ được tha.[18]
Một phương pháp thay thế để trả những khoản nợ này dường như là “nô lệ mắc nợ”. Nô lệ mắc nợ là những cá nhân phục vụ người cho vay để trả nợ. Trong khi từ trong tiếng Hipri được dịch là “nô lệ”, một thuật ngữ hay hơn có thể là “tình trạng nô lệ theo hợp đồng”.[19] Đặc điểm chính để phân biệt nô lệ nợ với chế độ nô lệ[20] dường như là nô lệ mắc nợ tham gia việc phục vụ này một cách tự nguyện[21] và phục vụ đủ lâu để trả hết nợ. [22]Bất cứ ai làm nô lệ mắc nợ để trả nợ đều phải được giải phóng vào năm Sabát, cho dù món nợ đã trả xong hay chưa.
Mặc dù nằm ngoài nghiên cứu này, vấn đề này vẫn có một số vấn đề. Đầu tiên, từ דבֶעֶ trong tiếng Do Thái có thể biểu thị cả nô lệ nợ nần và nô lệ tài sản, cũng như người hầu, điều này đã gây ra sự nhầm lẫn đáng kể. Sự phân biệt giữa người hầu và nô lệ dường như được đánh dấu bằng những hàm ý tích cực và tiêu cực trong bối cảnh.[23] Tuy nhiên, sự phân biệt giữa nô lệ chiếm hữu và nô lệ mắc nợ khó phân biệt hơn, và cần phải đánh giá cẩn thận tình hình để xác định loại nô lệ nào sẽ được nhắm tới.
Việc hỗ trợ tài chính dài hạn gắn liền với Năm Thánh và liên quan đến một tình huống khác. Như được mô tả trong Sách Lêvi chương 25, khoản viện trợ này không phải là một khoản cho vay, mặc dù thường được coi là như vậy.[24] Tình huống này xảy ra khi một cá nhân đạt đến điểm mà nhu cầu tiền tệ của anh ta lớn đến mức anh ta phải “bán” trang trại của mình. Tuy nhiên, đất không được phép rời khỏi gia đình nên thực chất đây không phải là việc mua bán. Bản văn Sách Lêvi chương 25 chỉ rõ rằng “giá” của đất sẽ là số vụ mùa còn lại cho đến năm Năm Thánh tiếp theo, khi đó quyền sử dụng đất sẽ được chuyển về cho chủ sở hữu ban đầu. Như vậy, việc “bán” sẽ được gọi tốt hơn là “cho cấy tô”.[25] Năm Toàn Xá, tức là năm thứ năm mươi (Lv 25, 11), là năm kết thúc hợp đồng thuê đất khi đất được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp của nó. Bản văn Lêvi đưa ra một số điểm quan trọng liên quan đến việc thiết lập Năm Thánh.
1. Đất là một món quà. Đầu tiên và có tầm quan trọng hàng đầu, vùng đất liên quan là đất mà Đức Chúa ban cho mỗi gia đình làm “thừa kế” (Gs 13, 7; 23, 4).[26] Khi sử dụng từ “thừa kế”, đây rõ ràng là một món quà Thiên Chúa ban cho dân Ngài. Điều này được làm rõ trong Lêvi 25, 23, nơi Đức Chúa nói với dân Israel rằng đất là của Ngài và họ là “ngoại liều, là khách trọ” ở với Ngài. Điểm này rất quan trọng đối với bất kỳ cuộc thảo luận nào về những gì liên quan đến việc sử dụng đất sau này, đặc biệt khi nó trở thành “tài sản thế chấp” cho các khoản vay.
2. Đất thuộc sở hữu của đại gia đình. Quyền thừa kế này được trao cho gia đình và sẽ tồn tại vĩnh viễn trong gia đình. Cụ thể, đất không thể “bán vĩnh viễn” (Lv 25, 23). [27] Trong khi bản văn sử dụng thuật ngữ “mua” (ָקנָה) và “bán”(ָמכַר) thứ duy nhất được mua và bán là mùa màng.[28] Do đó, khi nói về đất đai liên quan, chúng ta nên hiểu đúng hơn các giao dịch là giao dịch cho thuê. Nếu những tiêu chí này được tuân theo thì người nước ngoài sẽ không thể có được đất đai vĩnh viễn ở Israel (ít nhất là ở phần đất được phân bổ vào thời điểm chinh phục).
3. Việc Đức Chúa phân chia đất đai chỉ là sự kiện xảy ra một lần.Việc phân chia đất đai vào thời điểm chinh phục, vốn là cơ sở của khái niệm Năm Thánh, là một sự kiện độc đáo chỉ giới hạn ở thế hệ đó và một diện tích đất cụ thể.[29]Mặc dù có một số dấu hiệu cho thấy đất nước được hứa sẽ sở hữu nhiều đất hơn trong tương lai (xem Đệ Nhị luật 19), nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy việc phân chia đất đai tiếp theo sẽ được Chúa ban cho trong trường hợp đó.[30] Hơn nữa, những hướng dẫn về việc mở rộng đất đai về mặt quân sự trong tương lai đã được đưa ra trong cuộc chinh phục, nhưng không có hướng dẫn nào về việc rút thăm để phân chia lãnh thổ mới sau này (ví dụ Đệ Nhị Luật 20). Điều này gợi ý rằng những mở rộng trong tương lai sẽ phải tuân theo một hình thức phân bổ khác, có thể là kiểu “chiến lợi phẩm của chiến tranh”. Nguyên mẫu của sự phân bổ dự kiến này có thể là việc phân bổ vùng bên kia sông Giodan cho các chi tộc Ru-bên, Gát và nửa chi tộc Ma-na-se.[31] Một câu hỏi mở là liệu đất nằm ngoài di sản ban đầu có thể được mua hoặc bán hay không.
4. Các thành có những quy định khác nhau.Các quy định khác nhau áp dụng cho tài sản phi nông nghiệp trong các thành. Một ngôi nhà trong một thành có tường lũy bao quanh có thể được bán vĩnh viễn, mặc dù có quyền chuộc lại một năm (Lv 25, 29).[32]Ngoại lệ là những ngôi nhà ở các thành thuộc dòng tộc Lêvi, nơi có quyền chuộc lại vĩnh viễn.[33]
5. Bán đất không phát sinh nợ.Do tính chất của giao dịch, theo định nghĩa, số tiền được trao cho chủ sở hữu ban đầu của mảnh đất không phải là một khoản vay. Khoản tiền này không cần phải hoàn trả vì “người cho vay” thực sự đã nhận được cây trồng trong thời hạn thuê như một khoản thanh toán. Phải thừa nhận rằng, chủ sở hữu ban đầu của mảnh đất có thể lấy lại quyền sử dụng đất trước khi hợp đồng thuê kết thúc bằng cách mua lại hợp đồng thuê với giá bằng giá mà anh ta đã bán – tức là giá trị của số vụ mùa còn lại cho đến năm Năm Thánh tiếp theo.
6. Thuê đất có thời hạn tối đa.Các hợp đồng thuê liên quan đến Năm Thánh có thời hạn giới hạn — cụ thể là cho đến năm tiếp theo của Năm Thánh, tức là không quá bốn mươi chín năm. Giá của giao dịch được ấn định theo số năm còn lại cho đến Năm Thánh tiếp theo. Như vậy, người cho thuê đất sẽ không mất đồng nào khi đất được trả lại. Đúng hơn, anh ta sẽ nhận được số lượng mùa màng mà anh ta đã “mua” theo thời hạn của hợp đồng thuê.[34]
7.Chế độ nô lệ không liên quan. Dựa trên những dữ liệu này, rõ ràng là những cá nhân, người “bán đất” không phải là nô lệ theo bất kỳ nghĩa nào của từ này. Điều này sẽ giải thích tại sao bản văn nói cụ thể rằng họ không được coi là nô lệ (Lv 25, 35–46, đặc biệt là câu 39), và như sẽ được trình bày dưới đây, họ dường như có một địa vị khác nhiều như thế nào.[35] Với bối cảnh này, chúng ta lưu ý rằng Lêvi 25, 8–55 trình bày Năm Toàn Xá như một “năm được thánh hiến” theo chu kỳ bảy năm Sabát được ghi trong câu 8.[36] Nó bắt đầu bằng việc thổi sừng cừu đực khắp xứ vào Ngày Lễ Chuộc Tội vào đầu “năm thứ năm mươi”[37] để chứng tỏ rằng nó đã được thánh hiến.
Trong khi đất đai được nghỉ ngơi như năm Sabát bình thường, trọng tâm của Năm Thánh liên quan đến miền đất đã được ban làm cơ nghiệp. Cụ thể, trong năm đó, tất cả đất nông nghiệp được trao như một phần thừa kế của quốc gia sẽ được giao lại cho gia đình mà nó đã được trao vào thời điểm chinh phục. Yếu tố thứ hai của năm đó khuếch đại vấn đề mắc nợ của các cá nhân (Lv 25, 35–46). Mặc dù điều này thường được coi là sự chuyển giao của “nô lệ”, nhưng thuật ngữ đó không được sử dụng ở đây.[38] Hơn nữa, không có điều gì trong đoạn văn này gợi ý việc tha nợ trong Năm Thánh.
III. Tiến trình của Năm Thánh
Chúng ta lưu ý rằng sách Lêvi chương 25 cung cấp một khoản dự phòng cho một chủ sở hữu tài sản người Israel có nhu cầu tài chính đáng kể nên anh ta buộc phải “bán” đất của mình. Trong trường hợp này, người có thể giúp đỡ có thể là “bạn bè, cộng sự hoặc mối quan hệ”,[39] đã hỗ trợ tài chính bằng cách “mua” đất. Như đã nói, giá bán thực tế là hoa màu mà đất đó sản xuất ra. Vì vậy, nói đúng hơn là anh ta đã hỗ trợ tài chính bằng cách cho thuê đất.[40]
Điều này đặt ra nhiều câu hỏi liên quan đến số tiền trao tay. Có lẽ câu hỏi quan trọng sẽ là: Giá trị của một vụ mùa là gì? Mặc dù chúng ta không có dữ liệu chính xác nhưng chúng ta có một số thông tin hữu ích. Karen Rhea Nemet-Nejat gợi ý rằng ở Mesopotamia giá trị trung bình của một vụ mùa sẽ vào khoảng một năm rưỡi đến hai năm tiền lương. Tác giả cũng khẳng định rằng trang trại điển hình có diện tích từ 3–8 mẫu Anh là đủ để nuôi một gia đình.[41] Điều này có thể tương quan tốt với các dữ liệu khác cho thấy rằng một trang trại điển hình của người Israel sẽ có diện tích khoảng 5 mẫu Anh.[42] Vì vậy, mặc dù khó có thể so sánh các nền văn hóa khác nhau nhưng những con số này mang tính gợi ý.
Tuy nhiên, cả giá đất và giá vụ mùa đều biến đổi. Giá đất thời đó, giống như ngày nay, phụ thuộc vào chất lượng đất cũng như mức độ tưới tiêu. Ngoài ra, giá nông sản như ngày nay còn phụ thuộc vào sự dồi dào hay khan hiếm của sản phẩm. Vì vậy, trong khi Lêvi 25, 16 nói “vì nó bán cho ngươi một số năm thu hoạch”, thì cách xác định “giá trị” của một vụ mùa vẫn chưa được nêu rõ. Thoạt nhìn, đây có vẻ là giá trị thị trường, nhưng không nhất thiết phải như vậy. Ngay cả trong Cựu Ước, giá trị thị trường cũng thất thường như đã thấy trong sự kiện sách 2 Các Vua chương 7 khi giá ngũ cốc tăng lên trong thời gian bị bao vây và sau đó giảm xuống chỉ sau một đêm.
Sự không chắc chắn này sẽ ảnh hưởng đến cả hai bên của hợp đồng thuê. Trong trường hợp bên cho thuê, chúng ta đã lưu ý rằng giao dịch này không phải là một khoản cho vay và ngay cả nếu có thì người Israel cũng không được tính lãi từ những người đồng hương Israel (Lv 25, 36). Điều này dường như để lại động cơ duy nhất của việc coi hợp đồng thuê là hoạt động từ thiện, tức là giúp đỡ một thành viên trong gia đình (hoặc hàng xóm) trước nguy cơ mua vụ mùa trong tương lai với mức giá nhất định và sau đó gặp phải mùa màng thất bát.
Do đó, có vẻ như sẽ có một số động cơ tài chính áp dụng cho hợp đồng thuê đất để người cho thuê đất kỳ vọng nhận được tiền lãi cho những nỗ lực và rủi ro của mình. Một khả năng là có một mức giá cố định được khấu hao đã được hiểu rõ cho một năm trồng trọt và người nông dân cho thuê có thể hy vọng vào một vụ mùa bội thu và do đó thu được lợi nhuận. Mặc dù hợp lý nhưng chúng ta không có bất kỳ manh mối nào cho thấy trường hợp đó xảy ra.
Tiếp theo chúng ta cần xét đến trường hợp cá nhân cho thuê đất. Vì đất nông nghiệp có thể là nguồn thu nhập chính của một cá nhân cần cho thuê trang trại của mình, nên lý do cho thuê đất nhất thiết phải là nhu cầu tài chính cực độ. Trong trường hợp đó, người đó sẽ sống như thế nào cho đến Năm Thánh tiếp theo?
1. Có thể cung cấp cho người nghèo khó. Một khả năng cung cấp cho người cho thuê đất của mình có thể là một số tiền mặt mà anh ta nhận được từ hợp đồng thuê. Tuy nhiên, có thể cần rất nhiều, nếu không phải tất cả, số tiền đó để trả khoản nợ đã dẫn đến việc “bán”.
Một khả năng khác là anh ta có thể thực hiện một giao dịch khác. Mặc dù anh ta có thể ở lại khu định cư nơi anh ta hiện đang ở, nhưng nhiều khả năng anh ta sẽ chuyển đến một thành phố. Nhưng điều đó cũng sẽ kéo theo những chi phí khác, trừ khi anh ấy có người ở đó để chuyển đến cùng.
Lựa chọn thứ ba là anh ta có thể chuyển đến một quốc gia khác nơi anh ta có thể mua hoặc thuê đất, hoặc có thể làm việc ở trang trại của người khác. Điều này dường như xảy ra trong sách Ruth khi Ê-li-mê-léc, Na-ô-mi và gia đình họ rời đi và chuyển đến Mô-áp vì nạn đói.[43]
Khả năng thứ tư có thể mang lại lợi ích cho cả hai bên được đề xuất trong đoạn sách Lêvi. Nông nghiệp luôn là một quá trình sử dụng nhiều lao động, đặc biệt là trước cuộc cách mạng công nghiệp. Do đó, số lượng đất mà một gia đình có thể làm việc, bất kể số lượng sở hữu, tỷ lệ thuận với nguồn nhân lực sẵn có. Vì vậy, trừ khi người cho thuê đất có lao động dư thừa (dù là gia đình đông người, nhiều nô lệ, hoặc người làm thuê), thì người đó sẽ không thể sử dụng được mảnh đất mới thuê của người Israel mà anh ta đã bảo lãnh. Một giải pháp có thể là anh ta “thuê” người Israel được bảo lãnh để làm việc trên mảnh đất mà anh ta vừa cho thuê, với một phần hoa màu được dùng làm tiền lương. Một số mục trong đoạn văn Lêvi gợi ý rằng đây là một thực hành phổ biến, nếu không muốn nói là thông thường.
a. Người nghèo và người xa lạ. Lêvi 25, 35 quy định rằng một người nghèo phải được đối xử như một người ngoại quốc (một người nước ngoài thường trú). Vì những người ngoại quốc không thể mua được đất nên họ phải làm thuê (mặc dù như được thấy ở phần sau của chương này, họ có thể trở thành “nô lệ” trong trường hợp đó họ được cung cấp đồ ăn thay vì tiền lương). Với tư cách là những người làm thuê, họ lẽ ra phải cung cấp trợ giúp nông nghiệp cho những người nông dân Israel, những người có khả năng phát triển đất đai vượt quá khả năng lao động của họ và gia đình họ.[44] Điều mà Israel mong đợi về những người làm thuê được thể hiện rõ trong Lêvi 19, 13, trong đó chỉ rõ rằng tiền công của người làm thuê “không được giữ lại suốt đêm cho đến sáng.”
b. Việc phục vụ có giới hạn. Lê-vi 25, 40–41 nói rằng người Israel nghèo này phải làm thuê và chỉ phục vụ cho đến Năm Toàn Xá, tức là cho đến khi đất được trả lại cho gia đình anh ta, lúc đó bản thân cá nhân đó sẽ trở về với gia đình mình.
c. Nô lệ ở Israel.Mặc dù đoạn văn này chỉ ra rõ ràng rằng dân Israel trong những trường hợp này không được coi là “nô lệ”, nhưng người ta đã đoán trước rằng dân Israel đã từng có nô lệ. Ví dụ, Lêvi 25, 44–46 cho phép dân Israel có thể mua nô lệ từ những người ngoại quốc hoặc những người ngoại đạo từ những vùng đất xung quanh họ. Ở đây “nô lệ” dường như được hiểu là “nô lệ chiếm hữu”.
2. Có thể cung cấp cho người nghèo.Nemet-Nejat khẳng định rằng ở Lưỡng Hà địa cách phổ biến nhất để khai thác đất đai trong thời kỳ Babylon cổ là thông qua việc làm thuê. Tác giả nói: “Người thuê nhà nhận được hạt giống, động vật và công cụ và anh ta phải trả lại một tỷ lệ phần trăm nhất định trên thu hoạch của mình”.[45]
Nếu đây là loại tình huống mà Sách Lêvi mô tả, thì về bản chất, người Israel cho thuê đất của mình sẽ trở thành tá điền.[46] Mặc dù đất đai thuộc sở hữu của anh ta về mặt pháp lý nhưng anh ta sẽ không còn quyền kiểm soát thực sự đối với nó nữa nhưng vẫn tiếp tục khai thác nó. Kết quả cuối cùng sẽ là một lượng thu hoạch nhất định (theo tỷ lệ phần trăm hoặc tỷ lệ cố định) sẽ thuộc về người đã thuê đất, điều này giúp giải thích tuyên bố của Sách Lêvi 25, 15-16 về số lượng mùa màng.
Kết quả là, người Israel bị thiệt hại về tài chính sẽ có tư cách là một người làm thuê, mặc dù đó là trên chính mảnh đất của anh ta. Vì vậy, trong tình huống này, người Israel cho thuê sẽ giải cứu người đồng hương của mình bằng cách cung cấp hỗ trợ tài chính dài hạn. Sẽ có động lực cho anh ta vì anh ta sẽ kiếm được thu nhập (“lợi nhuận”) mỗi năm trên mảnh đất mà anh ta thuê vì nó tạo ra một vụ mùa mới. Tương tự như vậy, người Israel cho thuê đất sẽ được hỗ trợ tài chính và có thể ở lại cộng đồng của mình – về cơ bản là mạng lưới hỗ trợ của anh ta.
VI. Chuộc Đất Đai
Trong mọi trường hợp, người ta dự đoán trước rằng cá nhân đã cho thuê đất của mình (hoặc gia đình anh ta) sẽ mong muốn giành lại quyền kiểm soát nó. Để làm như vậy, anh có hai lựa chọn. Trước mắt, anh ta sẽ phải mua lại hợp đồng thuê từ người đã thuê nó.[47] Lựa chọn thứ hai, lựa chọn lâu dài, là đợi đến Năm Thánh.
Vì Năm Thánh chỉ diễn ra mỗi năm mươi năm một lần nên có khả năng là chủ sở hữu đất ban đầu giờ đây đã qua đời và những người thừa kế của anh ta sẽ nhận lại đất. Mấu chốt ở đây là mảnh đất thuộc sở hữu của một đại gia đình thay vì những gia đình hạt nhân nhỏ hơn mà ngày nay chúng ta quen thuộc hơn. Trong khi cần phải làm nhiều việc hơn nữa về bản chất của đại gia đình,[48] có thể đại gia đình có trách nhiệm trở về quê hương trong Năm Thánh.
Không rõ liệu quốc gia này có bao giờ cử hành Năm Thánh và Năm chuộc lại đất đai hay không. Như Kiuchi lưu ý, “Phần còn lại của Cựu Ước rất ít đề cập đến Năm Thánh, và không có bằng chứng nào cho thấy thể chế này đã từng được thực hiện (xem Gr 34, 8–17)”.[49] Hartley gợi ý rằng việc lập lịch Năm Thánh không thường xuyên (cứ năm mươi năm một lần) giúp giải thích sự khó tìm này.[50] Mặt khác, chúng ta có trường hợp của Naboth, người đã công nhận nguyên tắc sở hữu gia đình vĩnh viễn (1 V 21:3). Chúng ta cũng có trường hợp Bôaz đưa ra lời thách thức với người thân của mình để “chuộc lại” đất của Ê-li-mê-léc, người bà con đã qua đời của họ (R 4, 4). Xu hướng hiện đại dường như là nhìn nhận tình hình theo những khía cạnh đồng nhất. Nghĩa là, người ta thường cho rằng toàn bộ nền văn hóa hoặc tuân thủ hoặc không tuân thủ hệ thống pháp luật. Theo gợi ý từ quan sát khá lộn xộn của quốc gia về việc thờ phượng Thiên Chúa (chưa kể đến bản chất tổng thể của con người), có nhiều khả năng việc tuân thủ một luật dân sự khá phức tạp như thế này cùng lắm là lộn xộn khi một số khu vực tuân theo nó và những khu vực khác bỏ qua nó. Vì vậy, rất có thể là trong khi đa số dân chúng phớt lờ những luật lệ này (như A-háp), thì một thiểu số lại tôn trọng chúng và cố gắng tuân theo chúng (như Naboth).
Ngay cả khi cả nước cử hành Năm Thánh, tác động trên toàn quốc sẽ không đồng đều. Mặc dù lẽ ra cả nước phải để đất hoang để thể hiện lòng tin cậy nơi Đức Chúa, nhưng bằng chứng là hầu hết người Israel đã không làm như vậy.[51] Cũng có khả năng là rất ít người Israel thực sự đã cho thuê đất của họ trong suốt 49 năm trước đó theo hướng dẫn của Năm Thánh. Trong nhóm đó, một số người sẽ “chuộc lại” đất đai của họ trong thời gian tạm thời, nghĩa là thậm chí còn ít người mong đợi được trở lại mảnh đất của gia đình họ trong Năm Thánh.[52]
V. Ý NGHĨA
Năm Thánh chỉ là một khía cạnh của mạng lưới an toàn kinh tế của người Israel, và các khía cạnh khác (ví dụ: các điều khoản trong năm Sa-bát và các điều khoản dành cho góa phụ, trẻ mồ côi và người nước ngoài thường trú) cần được giải quyết riêng. Trong khi vẫn còn câu hỏi liệu Năm Thánh có được cử hành hay không, luật pháp đã làm theo mô hình làm thế nào một nền văn hóa có thể xử lý những khó khăn kinh tế nghiêm trọng đối với một số công dân của nó. Tuy nhiên, có một số vấn đề trong việc cố gắng sử dụng nó làm nền tảng cho công bằng xã hội ngày nay.
1. Năm Thánh không đòi hỏi phải tha nợ cũng như không đòi hỏi phải phân phối lại của cải theo định kỳ. Vì không mắc nợ nên không có gì có thể được tha thứ. Hơn nữa, vì đất liên quan được hoàn trả cho gia đình mà Chúa đã ban cho nên không có sự phân phối lại của cải. Đúng hơn là Năm Thánh được thiết kế để định kỳ thiết lập lại quốc gia đó ở mức cơ bản về kinh tế xã hội do Chúa chỉ định. Cơ sở là quyền sở hữu của gia đình đối với vùng đất mà Đức Chúa đã hứa cho Áp-ra-ham và con cháu của ông trong suốt Sáng Thế ký, vùng đất này thực sự đã được phân bổ trong sách Giôsuê. Như đã lưu ý trong Sách Lêvi 25, 23, Đức Chúa sở hữu đất đai và ban nó cho người Ngài mong muốn.
Việc không có sự xóa nợ hay phân phối lại của cải dường như là hàm ý rõ ràng nhất của nghiên cứu này xuất phát từ những tuyên bố rõ ràng trong bản văn. Như đã lưu ý, Sách Lêvi tuyên bố cụ thể (và lặp lại để nhấn mạnh) rằng các giao dịch tài chính dẫn đến Năm Thánh là việc bán hoa màu hàng năm do đất sản xuất (Lv 25,15-16).
Do đó, người đưa tiền không phải là cho vay mà là mua một sản phẩm. Tương tự như vậy, người nhận tiền không mắc nợ mà đang cung cấp một sản phẩm sẽ được giao định kỳ trong tương lai. Quyền sở hữu thực tế đối với đất đai thực sự không được trao tay mà vẫn thuộc về gia đình đã thừa kế nó từ Đức Chúa. Theo cách hiểu này, Năm Thánh thực sự là thời điểm hết hạn nửa trăm năm hợp đồng thuê đất trên toàn quốc. Như vậy, khoảng cách đầu tiên cần giải quyết là giữa một xã hội nông nghiệp nơi các gia đình đều sở hữu đất đai và phần lớn tự lực cánh sinh vào xã hội hậu công nghiệp hội nhập cao ngày nay, nơi nhiều người có rất ít, nếu có, tài sản vốn để cho thuê.
2. Năm Thánh là một cuộc biểu dương đặc biệt về mặt văn hóa về đặc tính của Thiên Chúa.Sider đã đúng khi nói rằng “xã hội công nghệ hiện đại khác rất nhiều so với vùng nông thôn Palestine”. Vì điều này, ông kết luận một cách xác đáng: “Ngày nay, chính các nguyên tắc chứ không phải chi tiết mới là quan trọng”.[53] Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là Sider dường như làm việc từ những quan niệm sai lầm về các nguyên tắc thực tế là gì. Ví dụ, Sider tuyên bố rằng nguyên tắc Năm Thánh ngụ ý “tài sản tư nhân tốt đến mức Chúa muốn mọi người đều có một ít”.[54] Dựa trên sự hiểu biết của mình về Năm Thánh, Sider sau đó kết luận rằng “Chúa muốn nguồn tài sản sản xuất của xã hội được phân phối để mọi người đều có đủ nguồn lực để kiếm tiền theo cách riêng của mình”.[55]
Mặc dù có thể đúng là tài sản riêng sẽ tốt cho mọi người, nhưng điều này không bao giờ được coi là một mục tiêu, và chắc chắn dường như không phải là một phần của nguyên tắc Năm Thánh. Thực tế là nguyên tắc Năm Thánh chỉ áp dụng cho một lãnh thổ cụ thể được trao cho một nhóm người trên toàn thế giới trên cơ sở một lần dường như làm suy yếu lập luận của Sider. Bản thân Sider dường như cảm nhận được điều này khi sau này tác giả nhìn vào cuộc đời của Chúa Giêsu và rút lui khỏi quan điểm này. Ở đó, ông nói rằng các mối quan hệ kinh tế đã được biến đổi trong cộng đoàn các môn đệ, nơi họ có chung một túi tiền. Ông ngụ ý rằng đây là tiêu chuẩn mới.[56]
Tuy nhiên, điều dường như bị bỏ qua trong quá trình này là bản thân “công bằng xã hội” không nên được coi là mục đích cuối cùng. Đúng hơn, mong muốn cơ bản của Chúa là tất cả mọi người đến với Ngài.[57] Mối quan hệ này không chỉ là nền tảng của công bằng xã hội mà không có nó thì không thể có công bằng xã hội, điều này dẫn đến hàm ý tiếp theo.
3. Nguyên tắc Năm Thánh chỉ có hiệu lực trong một xã hội cùng nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng tối cao.Tiền đề cơ bản của Năm Thánh là Thiên Chúa là chủ sở hữu thực sự của vùng đất (Lv 25, 23). Mặc dù đúng là Thiên Chúa, với tư cách là Đấng Tạo Hóa, là chủ sở hữu của toàn bộ vũ trụ, nhưng Năm Thánh dựa trên một dải đất cụ thể được Chúa ban cho một thế hệ cụ thể cho một mục đích cụ thể. Những người mong muốn áp dụng nguyên tắc này vào cuộc đấu tranh văn hóa ngày nay vào thời điểm này vì ngày nay không có quốc gia nào được xây dựng trên tiền đề này.[58]
Trong khi một số người cho rằng hiện nay Giáo hội có trách nhiệm này, thì điều này vẫn để lại cho chúng ta một số vấn đề.[59] Ví dụ, Giáo hội không có thẩm quyền pháp lý để thực thi quyền sở hữu. Trong trường hợp tốt nhất, Giáo hội có thể áp dụng thẩm quyền đạo đức và thậm chí điều này còn có vấn đề vì “Giáo hội” bị chia rẽ về cách áp dụng luật Cựu Ước.[60] Giải pháp thay thế là Giáo hội nên tranh thủ làm đồng minh với một chính phủ thế tục, vốn về bản chất đã bác bỏ quyền sở hữu của Chúa đối với bất cứ thứ gì.[61] Đây là một trong những lời chỉ trích chính của Chilton đối với Sider.[62]
VI. KẾT LUẬN
Nghiên cứu này xem xét hai câu hỏi. Đối với điều đầu tiên, kết luận là ý tưởng hiện tại về “nguyên tắc Năm Thánh” không phải là cách hiểu hợp lý về thể chế Năm Thánh Cựu Ước vì trái ngược với cách hiểu hiện tại về nguyên tắc Năm Thánh, không có khoản nợ nào được tha và không có sự phân phối lại của cải. Tuy nhiên, câu trả lời cho câu hỏi thứ hai lại có nhiều vấn đề hơn. Nhìn bề ngoài, tổ chức Năm Thánh của Cựu Ước ngày nay không được áp dụng vì nhiều lý do.
Tuy nhiên, thể chế Năm Thánh của Israel dường như thể hiện các nguyên tắc mà theo đó các mô hình công bằng xã hội có thể được xây dựng ngày nay. Điều bắt buộc là chúng ta phải đảm bảo rằng bất kỳ nguyên tắc nào chúng ta rút ra đều có giá trị. Điều này có nghĩa là nó phải thể hiện một cách trung thực những sự thật cơ bản mà sự kiện Levi chứng minh, thay vì chỉ cố gắng đưa sự kiện đó vượt qua một khoảng cách văn hóa rộng lớn, hoặc tìm hiểu thực tế kinh tế xã hội hiện tại của nền văn hóa cổ đại. Ở mức tối thiểu, điều đó có nghĩa là nguyên tắc này phải tương quan với bản chất thực tế của sự kiện như được mô tả trong Sách Lêvi, điều này dường như loại bỏ các lập luận ủng hộ việc bình đẳng hóa định kỳ “các phương tiện tạo ra của cải”[63] hoặc việc xóa nợ.[64]
Những phép loại suy có giá trị đòi hỏi chúng ta phải tìm kiếm những biểu hiện rõ ràng về đặc tính của Thiên Chúa cũng như bản chất của con người mà Năm Thánh minh họa, và sử dụng những đặc điểm đó làm nguyên tắc để chúng ta xây dựng bất kỳ mô hình công bằng xã hội nào. Những đặc điểm tính cách có giá trị cũng sẽ được chứng minh ở đâu đó xuyên suốt Kinh thánh. Mặc dù dường như có một số điều chúng ta có thể khám phá nhưng chúng ta sẽ chỉ lưu ý ngắn gọn ba điều dường như rất rõ ràng trong Sách Lêvi 25.
1. Đức Chúa có quyền tối cao và với tư cách là Đấng Tạo Hóa-Đức Chúa sở hữu toàn bộ vũ trụ (Lv 25, 23). Nếu Đức Chúa thực sự sở hữu toàn bộ vũ trụ, thì tất yếu mọi thứ trong vũ trụ đều thuộc về Ngài. Đó là lẽ thật cơ bản trong lời tuyên bố của Thiên Chúa về quyền sở hữu vùng đất đã được ban cho Israel. Đó cũng là một sự thật phổ quát, quay trở lại Sáng thế ký 1:28, cho thấy rằng con người chỉ là những người quản lý thế giới mà họ được đặt vào đó. Là một chân lý phổ quát, nó cũng có thể áp dụng được cho nền văn hóa ngày nay. Với tư cách là một người ngoại quốc phụ thuộc và chịu trách nhiệm trước Đấng Tạo Hóa, tôi phải cẩn thận để đảm bảo rằng tôi quản lý bất cứ thứ gì tôi sở hữu theo mong đợi của Ngài. Trong khi Jubilee gợi ý về các hướng dẫn, cần phải thực hiện thêm công việc để đánh giá xem các điểm tương đồng hiện đại có thể bắt nguồn từ nguyên tắc này như thế nào.
2. Thiên Chúa nhân từ khi ban quà tặng cho những người không xứng đáng (Lv 25, 2). Khi dân Israel chuẩn bị tiến vào miền đất, dân chúng đã được Đức Chúa cảnh báo rằng họ không nên nghĩ rằng họ được ban đất vì họ là người công bình (Đnl 9:4–6). Đúng hơn, đó là vì sự độc ác của những người bị đuổi ra ngoài. Khi Israel thay thế các dân tộc đó, họ sẽ trở thành “một vương quốc tư tế, một dân thánh” (Xh 19, 6) đóng vai trò trung gian giữa Đức Chúa và các dân tộc khác.
Điều này dường như khuếch đại nguyên tắc đầu tiên về quyền sở hữu của Thiên Chúa. Nếu Chúa là chủ và tôi không xứng đáng, thì tôi nên quản lý những gì Ngài ban cho tôi không chỉ một cách khôn ngoan mà còn với tinh thần khiêm tốn và lòng trắc ẩn như đã lưu ý ở phần tiếp theo. Trong Tân Ước, nguyên tắc này được áp dụng cho hội thánh trong Êphêsô 4, 8 và 1 Côrintô 12, 4-7 cùng những đoạn khác. Tuy nhiên, ý tưởng về lòng trắc ẩn cần được đánh giá cẩn thận để đảm bảo rằng nó không bị đặt sai chỗ và phản tác dụng.
3. Thiên Chúa là Đấng ngay thẳng và công bình và mong muốn loài người thể hiện sự công bằng và chính trực trong cách họ quản lý những ân tứ mà Thiên Chúa ban cho họ (Đnl 6:25). Mặc dù không được nêu trực tiếp trong đoạn Sách Lêvi, nhưng đây là một hàm ý xuất hiện nhiều lần trong cả hai bản giao ước. Điểm mấu chốt là tôi sẽ chịu trách nhiệm về cách tôi quản lý tài sản được giao cho mình bằng các thuật ngữ chính “công lý” và “sự công bình”.
Công lý biểu thị sự đối xử công bằng với người khác.[65] Đối với vương quốc Israel, điều này đã được viết ra nhiều lần trong Kinh Torah. Về mặt pháp lý, điều này có nghĩa là không thiên vị dù ủng hộ người giàu (Lv 19, 15) hay ủng hộ người nghèo (Xh 23, 3), cũng không nhận hối lộ (Xh 23, 8; Đnl 10, 17; 16,18–20). Về mặt xã hội, điều này có nghĩa là những hành động như trả lại một con vật lang thang ngay cả khi nó là của kẻ thù (Xh 23, 4–5), cho phép người nghèo và người lạ tiếp cận “của sót lại” của mùa gặt (Lv 19,10), và trả lương kịp thời cho người làm thuê (Lv 19, 13).
Sự công bình phức tạp hơn. Gốc của từ gợi ý sự phù hợp với một tiêu chuẩn luân lý hoặc đạo đức.[66]Tuy nhiên, nó cũng mang hàm ý từ bi. Ví dụ, trong trường hợp một khoản vay, trong khi người cho vay có quyền hợp pháp (và đạo đức) để giữ lại tài sản thế chấp, thì ít nhất trong một số trường hợp, người cho vay phải trả lại tài sản thế chấp cho người đi vay. Tình huống mẫu là trường hợp tài sản thế chấp là một chiếc áo choàng, và ngụ ý rằng đây là thứ mà người nghèo sẽ ngủ trong đó. Trong trường hợp đó, người cho vay được đảm bảo rằng không chỉ người đi vay sẽ ban phước lành cho anh ta, mà hành động nhân ái này cũng sẽ được Thiên Chúa coi là công bình (Đnl 24, 13). Việc tha nợ vào năm Sabát dường như cũng thể hiện ý tưởng tương tự.
Hai thuật ngữ kết hợp với nhau gợi ý rằng trong cộng đồng giao ước của Israel, mọi người phải đối xử công bằng, có đạo đức và nhân ái với đồng bào Israel của mình. Đây là nguyên tắc nền tảng của Năm Thánh. Bản thân Năm Thánh là một trong nhiều luật nghiên cứu trường hợp khác nhau minh họa các chi tiết cụ thể về cách đối xử công bằng, đạo đức và nhân ái được nêu trong cái mà chúng ta gọi là Mười Điều Răn có thể được thực hiện.
Năm Thánh có hiệu quả khi một người Israel sẵn sàng cho thuê đất của một người Israel khác đang gặp khó khăn về tài chính, nhận ra rằng khi hợp đồng thuê kết thúc, quyền sử dụng đất sẽ được trả lại cho chủ sở hữu (vào năm Năm Thánh) và trong thời gian đó, anh ta phải đối mặt với nguy cơ mất mùa trên mảnh đất đó. Làm thế nào điều đó có thể được thực hiện trong một nền văn hóa phi nông nghiệp nhất thiết phải là chủ đề của các nghiên cứu tiếp theo. Dù thế nào đi nữa, Năm Thánh chỉ là một ví dụ về một khái niệm rộng hơn về công bằng xã hội, chứ không phải là một nguyên tắc làm nền tảng cho nó.
Lm Phêrô Phạm Minh Triều, CM chuyển ngữ từ JETS 54.4 (December 2011) 685–99.
* Michael Harbin là giáo sư nghiên cứu Kinh thánh và chủ tịch Khoa nghiên cứu Kinh thánh, khoa giáo dục Kitô giáo và triết học tại Đại học Taylor, 236 West Reade Avenue, Upland, IN 46989–1001.
[1] Trang web Âm nhạc Nội chiến Hoa Kỳ http://www.pdmusic.org/civilwar2.html) bao gồm cả nhạc và lời của một số bài hát liên quan đến tinh thần của Năm Thánh.
[2] Trừ khi có ghi chú khác, tất cả các trích dẫn Kinh thánh đều lấy từ New American Standard Bible (nhưng trong bản dịch này, xin được lấy từ bản dịch của Nhóm Phiên dịch các Giờ kinh phụng vụ).
[3] Chẳng hạn, xem Richard H. Lowery, Sabbath and Jubilee (St. Louis: Chalice, 2000) 68–69; và Ronald J. Sider, Rich Christians in an Age of Hunger (5th ed.; Nashville: Thomas Nelson, 1997) 230–31.
[4] Sider, Rich Christians 67–70. Xem thêm Ronald J. Sider, Just Generosity (2d ed.; Grand Rapids: Baker, 2007) 76–79.
[5] Jubilee2000 UK web site (www.jubilee2000uk.org) accessed May 18, 2010.
[6] Mạng lưới Jubilee USA tuyên bố trên trang web của mình: “Trong Năm Thánh như được trích dẫn trong Sách Lêvi, những nô lệ vì nợ nần được trả tự do, đất đai bị mất vì nợ được trả lại, cộng đồng được khôi phục” (www.jubileeuse.org/about-us, truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2010).
[7] Phần cụ thể này rõ ràng được cho là của Sinai, mặc dù các học giả hiện đại tranh luận liệu nó thực sự đã được đưa ra ở đó; xem Jacob Milgrom, Leviticus 23–27 (AB 3B; New York: Doubleday, 2001) 2151–52.
[8] Gary Edward Schnittjer, The Torah Story (Grand Rapids: Zondervan, 2006) 33–37 and 289–96.
[9] Cho rằng dân chúng đã cướp bóc người Ai Cập trước khi rời khỏi xứ (Xh 12, 35–36), người ta có thể lập luận rằng dân Israel “làm tốt lắm”. Tuy nhiên, không chắc bản thân người Ai Cập mà họ cướp bóc đã giàu có, mặc dù họ có thể khá giả hơn những người Israel là hàng xóm của họ. Có lẽ cách tốt nhất để diễn đạt điều đó là kết quả là “dân Israel không bị tổn hại gì.”
[10] Ba yếu tố này sẽ là những vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến cách người dân phản ứng với các hướng dẫn được đưa ra tại Sinai, vẫn chưa được đánh giá đầy đủ.
[11] Đây là một điểm quan trọng, vì một trong những tiền đề của việc áp dụng Năm Thánh hiện đại là rằng khái niệm Cựu Ước dựa trên khoản nợ của những chủ đất giàu có, những người đã sử dụng điều này để áp bức người nghèo. Gregory C. Chirichigno lưu ý rằng “vẫn chưa rõ sự phân tầng xã hội bắt đầu từ khi nào ở Israel” (Debt-Slavery in Israel and the Ancient Near East [JSOTSup 141; She5eld: JSOT, 1993] 139–40). Ngay cả khi bắt đầu có sự phân tầng xã hội, ông vẫn khẳng định rằng Israel chưa bao giờ bị phân tầng như Lưỡng Hà địa hoặc Canaan, và chỉ có hai tầng lớp xã hội thực sự có thể được phân biệt ở Israel – công dân tự do và nô lệ. Vì vậy, trong khi sự giàu có có thể thúc đẩy sự phân tầng nào đó, nó sẽ đã bị hạn chế (ít nhất là trong thời kỳ đầu của lịch sử quốc gia) và cũng sẽ có những biến đổi đáng kể cả lên và xuống.
[12] Cf. John Baines and Jaromír Málak, Atlas of Ancient Egypt (New York: Facts on File, 1992) 14–16; and Oded Borowski, Agriculture in Iron Age Israel (Winona Lake, IN: Eisenbrauns, 2009) 31–44. Ví dụ, ô liu, một mặt hàng chủ lực trong nền nông nghiệp của người Israel, không phát triển tốt ở Ai Cập.
[13] Người ta thường cho rằng các bộ lạc đến Canaan đều là những người chăn cừu vì Gia đình Giacóp khi xuống Ai Cập đều là những người chăn chiên (St 47, 3). Tuy nhiên, điều này không theo sau. Theo văn bản Kinh thánh, con cháu của Giacóp sống ở vùng đất Goshen gần bốn trăm năm. Sách dân Số 11, 5 lưu ý rằng người ta nhớ lại “rồi nào dưa gang, dưa bở, nào hẹ, nào hành, nào tỏi”, gợi ý về kỹ năng làm vườn. Các tài liệu tham khảo khác gợi ý khác nghề nghiệp. Sách Xuất hành 1, 11 lưu ý rằng họ đã xây dựng các thành Pithom và Raamses, qua đó họ sẽ phát triển kỹ năng xây dựng. Bezalel và Oholiab thông thạo nhiều nghề khác nhau bao gồm làm việc với vàng, bạc, đồng, chạm khắc đá, nghề mộc, cũng như dệt vải và pha chế nước hoa (Xuất hành 31, 3–11). Những người khác trong nước cũng có những kỹ năng tương tự (Xuất hành 36, 1). Như vậy, nó dường như ở Ai Cập người Israel đã phát triển một cơ cấu kinh tế xã hội phức tạp kết hợp nhiều kỹ năng.
[14] Nếu, như tôi đề xuất ở nơi khác, cuộc chinh phục kéo dài tới 5 năm, rất có thể người Israel sẽ đã học được một số kỹ thuật nông nghiệp từ những dân tộc mà họ đang thay thế The Promise
and the Blessing [Grand Rapids: Zondervan, 2005] 190). Điều này đặc biệt đúng vì một số các bộ lạc địa phương (chẳng hạn như người Gibeonites) đã bị sáp nhập, và những bộ lạc khác không bị di dời ngay lập tức (trang 196–97). Một tình huống tương tự là những người định cư Mỹ đầu tiên được cho là đã có học được từ người Mỹ bản địa.
[15] Trong khi những khả năng đó phụ thuộc vào phản ứng của quốc gia, một số khả năng đó được trình bày trong bản văn những điều chắc chắn như Chúa đã thấy trước tương lai. Ví dụ, Moshe Weinfeld khẳng định rằng “luật ngũ thư coi chế độ nô lệ là điều tất yếu” (“Sabbatical Year and Jubilee in the Pentateuchal Laws,” in The Law in the Bible and in its Environment [ed. Timo Veijola; Göttingen: Vandenhoeck & Ruprecht, 1990] 42). Tuy nhiên, điều này không nhất thiết có nghĩa là chế độ nô lệ đã tồn tại ở quốc gia Israel vào thời kỳ thời điểm pháp luật được ban hành. Đúng hơn, nó có thể chỉ ra rằng Chúa biết rằng nó sẽ tồn tại ở một thời điểm nào đó trong tương lai. Một tình huống tương tự có thể là sách đệ nhị luật chương 15 nơi người ta được cho biết rằng họ sẽ không có người nghèo ở giữa nếu họ lắng nghe và tuân theo (Đnl 15, 4), và sau đó một số ít những câu sau họ được biết rằng họ sẽ luôn có người nghèo (Đnl 15, 11).
[16] Chúng ta cần cẩn thận để không đọc quá nhiều về vấn đề này, vì Kinh thánh cho thấy rõ ràng rằng không phải mọi nghịch cảnh trong thế giới sa ngã của chúng ta đều là kết quả của sự bất tuân và phán xét (xem sách Gióp). Đồng thời, Cựu Ước nói rõ rằng phần lớn nghịch cảnh mà dân Israel phải đối mặt là kết quả của sự phán xét của Đức Chúa (xem sách Thẩm phán).
[17] John E. Hartley lưu ý rằng “người bà con gần nhất” gợi ý “mối dây trách nhiệm nối tiếp nhau” (WBC 4; Levitcus [Dallas: Word, 1992] 438. Tuy nhiên, thuật ngữ “người đồng hương” gợi ý rằng nghĩa vụ không chỉ dừng lại ở người thân, mặc dù hàng xóm có thể có trách nhiệm thấp hơn.
[18] Điều này lấy cụm từ “sáu năm” trong Xuất hành 21, 2 để chỉ thời gian tối đa được phép cho trả nợ.
[19] R. Alan Cole, Exodus: An Introduction and Commentary (Downers Grove: InterVarsity, 1973) 165. The Hebrew word is דבֶעֶ từ gốc דבַעָ nghĩa là “làm việc hay phục vụ” (TWOT 1553).
[20] Chirichigno chỉ ra rằng trái ngược với nô lệ nợ nần, nô lệ chiếm hữu là những nô lệ có trở thành tài sản của “chủ sở hữu” của họ (Debt-Slavery in Israel 30). Ở vùng Cận Đông cổ đại, nô lệ có thể là những người bị bắt trong chiến tranh, bị bắt cóc hoặc thực sự đã bị bắt hay sinh ra trong hoàn cảnh nô lệ. Họ có thể được mua và bán và nói chung có rất ít quyền, mặc dù ở Israel, luật Cựu Ước kêu gọi một địa vị công nhận danh tính và phẩm giá của họ với tư cách là con người. Ví dụ, trong khi Cựu Ước dường như tha thứ cho chế độ nô lệ trong trường hợp tù nhân chiến tranh (Đnl 20:10–18), Xh 21:16 gợi ý rằng bắt cóc nô lệ là một hành vi phạm tội. Chìa khóa cho mục đích của chúng ta ở đây là hai tình huống khác nhau được giải quyết.
[21] Trong khi NASB và NIV đều sử dụng động từ “mua”, thì tiếng Do Thái là הנָקָ (TWOT 2039), có nghĩa là “để có được hoặc để đạt được.” Đây là động từ thông thường được sử dụng để biểu thị “mua”, nghĩa là việc mua lại bởi sử dụng tiền. Mặc dù tiền có thể đã được trao tay trong quá trình này nhưng có vẻ như chúng ta đã đọc quá nhiều vào giao dịch. Nếu đây là vấn đề “nợ nần”, trong hầu hết các trường hợp cá nhân “bán” mình là “bán” sức lao động của mình để trả nợ. Nếu tiền được trao tay, nó sẽ đã từng gặp trường hợp nợ người thứ ba mà chính người “bán” đã nhận được tiền để đưa cho một chủ nợ khác.
[22] Như Gordon J. Wenham đã nói, nó tương tự như việc “cho phép một người không có khả năng trả tiền phạt được trực tiếp giải quyết khoản nợ của mình” (The Book of Leviticus [NICOT; Grand Rapids: Eerdmans, 1979] 322). Đây là một phép so sánh hay minh họa một điểm quan trọng mà nhìn chung dường như bị bỏ qua – đó là khoản nợ có hạn và có thể được trả bằng lao động. Kết quả là, việc nô lệ mắc nợ chỉ là tạm thời và nhìn chung, nô lệ mắc nợ có một số quyền.
[23] Ralph W. Klein khẳng định rằng mặc dù Cựu Ước sử dụng một thuật ngữ nhưng ngữ cảnh lại phân biệt giữa nô lệ với ý nghĩa tiêu cực và người hầu với ý nghĩa tích cực (“A Liberated Lifestyle: Slaves and Servants in Biblical Perspective,” CurTM 9 [1982] 212).
[24] Ephraim Radner, Leviticus (Brazos Theological Commentary on the Bible; Grand Rapids: Brazos, 2008) 266.
[25] Baruch A. Levine, Leviticus (JPS Torah Commentary; Philadelphia: Jewish Publication Society, 1989) 173.
[26] D. Howard Jr. nhận xét: “Đức Chúa đã ban đất cho dân Ngài làm cơ nghiệp, đất mà họ chiếm hữu” (Joshua [NAC 5; Nashville: Broadman & Holman, 1998] 300). Tác giả tiếp tục lưu ý: “Bức chân dung về cơ nghiệp của Israel đối với đất Canaan, miền đất hứa với Ápraham, là một kết cấu phong phú. Đầu tiên và quan trọng nhất, đó là món quà từ Đức Chúa của Israel, Yahweh. Nó liên quan đến một vấn đề pháp lý chuyển giao cho dân Israel đất Canaan mà Đức Chúa đã làm chủ” (trang 306).
[27] Đây là một điểm gây nhầm lẫn vì một số nhà bình luận dường như có quan điểm rằng vấn đề là việc bán đất thực tế với cơ hội mua lại (e.g. Chirichigno, Debt-Slavery in Israel 326).
[28] Levine, Leviticus 173.
[29] Sách dân số 34, 1–12 đưa ra các ranh giới cụ thể của vùng đất được phân chia (Timothy R. Ashley, The Book of Numbers [NICOT; Grand Rapids: Eerdmans, 1993] 639) ). Vùng đất này thực ra đã ít hơn một chút so với vùng đất đã được hứa cho Ápraham (St 15, 18). Hơn nữa, nó dường như việc sở hữu thực tế một số đất đã được phân phối đã được hoãn lại cho đến thời gian trong tương lai (Gs 23, 4–5). Trong đoạn sau này (và những đoạn khác), Giôsuê thách thức dân Israel hãy trung tín để Chúa tiếp tục giải cứu xứ này.
[30] Sách Đệ nhị luật 19, 8-9 thảo luận về ba thành ẩn náu sẽ được dành riêng ở phía tây của sông Giodan. Eugene H. Merrill gợi ý rằng Moses đã chấp nhận những địa điểm bổ sung như vậy (Deuteronomy [NAC 4; Nashville: Broadman & Holman, 1994] 277).Tuy nhiên, bản văn lưu ý rằng họ phải thêm ba thành trú ẩn nữa nếu họ cẩn thận tuân theo tất cả các điều răn và liệu Chúa có ban cho dân tộc này tất cả vùng đất đã được hứa ((i.e. up to the Euphrates; Carl Friedrich Keil and Franz Delitzsch, Commentary on the Old Testament [Peabody, MA: Hendrickson, 2002] I:936).
[31] Vùng bên kia sông Giodan dường như không phải là một phần của vùng đất hứa với Ápraham, thường được hiểu là nằm ở phía tây sông Giodan. Nó cũng không phải là một phần của mô tả đất đai của sách Dân số chương 34 đặc biệt đặt Sông Giodan giữa Biển Chinnereth (Galilee) và Biển Muối (Biển Chết) là biên giới phía đông của vùng đất là “cơ nghiệp thừa kế” của dân tộc. Mặc dù Sách Dân số 32, 33–42 kể lại việc đất đó được trao cho các bộ tộc đó như thế nào nhưng nó không cho biết họ phân chia như thế nào. vùng bên kia sông Giodan này, mặc dù có vẻ như nó không được thực hiện bằng việc như chơi sổ xổ.
[32] Milgrom, Leviticus 23–27 2198–2200
[33] Ibid., 2201.
[34] Milgrom khẳng định rằng trong trường hợp mất mùa, thiệt hại thuộc về người mua (sđd. 2178).
[35] Contra Je/rey D. Mooney, “Israel in Slavery and Slavery in Israel,” SBJT 12/3 (2008) 75–76 .
[36] Hai đoạn khác cung cấp thông tin cụ thể về năm đó. Lêvi 27:16–21 đề cập đến trường hợp của một người cống hiến một cánh đồng cho Chúa, thiết lập giá trị xét về thời gian chuộc nó trước Năm Thánh. Dân Số 36, 1-9 đề cập đến trường hợp các con gái của Xê-lô-phát khi họ thừa kế đất đai của cha họ để đảm bảo rằng đất đai vẫn thuộc về chi tộc Ma-na-se, không phải của gia đình chồng của họ các hoặc chi tộc trong những năm tiếp theo của Năm Thánh.
[37] Từ “Năm Thánh” dường như về cơ bản là một sự Anh hóa của từ tiếng Do Thái לבֵוֹי biểu thị sừng của con cừu đực (TWOT 835e). Nobuyoshi Kiuchi đề xuất một cách dẫn xuất khác từ động từ yābal có nghĩa là “được mang đi” (Leviticus [Apollos OT Commentary; Downers Grove: InterVarsity, 2007] 457). Milgrom lưu ý một số gợi ý khác, nhưng lại chọn chiếc sừng của con cừu đực (Leviticus 23–27 2169).
[38] Xem Keil and Delitzsch, Commentary I:469; Kiuchi, Leviticus 462; Wenham, Leviticus 322; and Chirichigno, Debt-Slavery in Israel 302.
[39] Từ được sử dụng là תימִעָ có thể có nghĩa là một trong ba từ đó (TWOT 1638a).
[40] Bởi vì những năm Sa-bát bỏ hoang nên số vụ này dường như là từ 1 đến 42 vụ mùa (Milgrom, Leviticus 23–27 2178). Vì năm cuối cùng trước Năm Thánh là năm Sabát nên năm muộn nhất có thể “cho thuê” đất của ông sẽ có hai năm trước Năm Thánh với một năm trồng trọt. Dựa trên những yếu tố giống nhau, điều này có nghĩa là người sớm nhất có thể “cho thuê” mảnh đất của mình sẽ là năm sau Năm Thánh.
[41] Karen Rhea Nemet-Nejat, Daily Life in Mesopotamia (Peabody, MA: Hendrickson, 2002) 257. Các biến số có thể bao gồm quy mô thực tế của trang trại, độ phì nhiêu của đất đai cũng như cách thức có kết quả một năm cụ thể.
[42]Michael A. Harbin, “An Old Testament Model of Social Justice,” paper presented at the annual meeting of the Evangelical Theological Society (New Orleans, 2009) 4.
[43] Các khía cạnh của câu chuyện này rất khó theo dõi. Rõ ràng là Êlimêléc sở hữu đất đai ở Israel (R 4, 3) và có nạn đói xảy ra và ông rời đi để đi đến Môáp (R1, 1). Không rõ ông ta làm gì đã làm với đất đai. Ông ta có thể đã bỏ rơi nó và nó bị bỏ hoang trong suốt những năm ông và gia đình mình đã biến mất. Nếu vậy, khi Naomi quay lại, rõ ràng bà ấy sẽ cố bán nó (tức là cho thuê) vì bà ấy đã không thể canh tác nó. Cũng có thể ông đã “bán” (tức là cho thuê) nó trước khi rời đi đối với Môáp. Trong trường hợp đó, đất đã vào tay người khác cho đến Năm Toàn Xá và Naômi sẽ không thể canh tác nó trừ khi nó được chuộc lại. Cả hai thuật ngữ đều được sử dụng trong đoạn văn. Cái sau dường như có nhiều khả năng hơn, nhưng trong cả hai trường hợp, vì họ quay trở lại vào đầu vụ thu hoạch lúa mạch nên đã quá muộn trong năm để canh tác và vấn đề đất đai cần phải được giải quyết (“chuộc lại”) trước đến mùa trồng trọt mùa thu.
[44] Chúng ta không có dữ liệu về tiền lương từ Israel, nhưng dữ liệu của Lưỡng Hà địa cho thấy mức lương hàng ngày khoảng 10 lít lúa mạch (Nemet-Nejat, Daily Life 264).tác giả cũng cung cấp dịch vụ chuyển đổi 300 lít lúa mạch tương đương với 1 shekel bạc (tr. 257). Tác giả cũng lưu ý rằng mức lương chính thức này được áp dụng từ Ur III khoảng thời gian (khoảng thời gian của Áp-ra-ham) trở đi, trong khoảng hai nghìn năm, mặc dù “việc tuyển dụng thực tế hợp đồng cho thấy hầu hết mọi người kiếm được ít hơn.”
[45] Nemet-Nejat, Daily Life 257.
[46] Milgrom, Leviticus 23–27 2204–5.
[47] Trong khi R. Hubbard lập luận rằng cách duy nhất có thể được thực hiện là trong trường hợp thừa kế, thì đây là một trong những chức năng của go’el(לאֵגּ) hoặc “người bà con-người chuộc lỗi”, mặc dù đó là một nghiên cứu khác(“The Go’el in Ancient Israel: Theological Reflections on an Israelite Institution,” BBR 1 [1991] 3–19).
[48] Bằng chứng khảo cổ cho thấy các gia đình mở rộng lên tới khoảng 25 cá nhân (Uzi Avner, “Khu định cư và tôn giáo nông nghiệp cổ đại ở Thung lũng Uvda ở miền Nam Israel,” BA 53 [Tháng 9 năm 1990] 132). Điều đó dường như phản ánh một đại gia đình có ba thế hệ (với người trẻ nhất trước tuổi vị thành niên) bao gồm có lẽ 4–6 gia đình hạt nhân sống trong một khu vực nông nghiệp tổ hợp.
[49] Kiuchi, Leviticus 467.
[50] Hartley, Leviticus 429.
[51] Theo 2 Sử Biên niên 36, 21, việc không giữ những năm Sa-bát là nguyên nhân chính dẫn đến việc bị lưu đày. Nếu như dân tộc đã không giữ năm Sabát, càng khó có khả năng là họ đã không giữ Năm Thánh.
[52] Khi đó, lập luận rằng Năm Thánh đại diện cho một tầm nhìn không tưởng về những người lưu vong, điều này chưa bao giờ được quan sát bởi vì “việc trao đổi tài sản [bán buôn] cứ mỗi 50 năm sẽ tạo ra sự hỗn loạn về kinh tế” phản ánh sự hiểu lầm đáng kể về các vấn đề liên quan (Robert Gnuse, “Jubilee Legislation in Leviticus: Israel’s Vision of Social reform,” BTB 15 [1971] 46)
[53] Sider, Rich Christians 73.
[54] Ibid. 74–75.
[55] Ibid. 161.
[56] Như trên. 75–76. Một phần của sự mơ hồ có thể là Sider đã thay đổi quan điểm của mình trong suốt ba mươi năm kể từ lần xuất bản đầu tiên đến lần xuất bản thứ năm. Ví dụ, ông lưu ý trong lời nói đầu của ấn bản thứ năm rằng ông đã suy nghĩ rất nhiều về quan điểm của Kinh thánh về sự bình đẳng và công bằng. Tuy nhiên, ông nói rằng ông vẫn cảm thấy mạnh mẽ về “bình đẳng kinh tế” (tr. xiv). Dưới góc độ này, nhận xét của Andrew Hartropp rất sâu sắc khi ông khẳng định “với tư cách là các nhà kinh tế học, các nhà kinh tế thường có rất ít điều để nói về công bằng trong đời sống kinh tế” lưu ý rằng có sự phân tích sâu rộng về “sự bình đẳng” ((What is Economic Justice? Biblical and Secular Perspectives Contrasted [Eugene, OR: Wipf & Stock, 2007] 1–2).
[57] Richard J. Foster lưu ý điều này khi ông nhận xét rằng mặc dù “mối nguy hiểm thực sự” của những người theo đạo Tin lành là rao giảng một Tin Mừng mà bỏ qua chiều kích xã hội, “những mối nguy hiểm này chẳng là gì khi so sánh với cạm bẫy trong Truyền thống Công bằng Xã hội trong việc chăm sóc các nhu cầu xã hội mà không quan tâm đến điều kiện của trái tim” (Streams of Living Water [San Francisco, Harper Collins, 1998] 179).
[58] Christopher Wright diễn đạt điều đó như sau: “Để áp dụng mô hình Năm Thánh, đòi hỏi con người phải đối mặt với quyền tối thượng của Thiên Chúa, tin tưởng vào sự quan phòng của Ngài, biết hành động cứu chuộc của Ngài, trải nghiệm chuộc tội, thực thi công lý và hy vọng vào lời hứa của Ngài” (“Jubilee, Year of,” ABD 3:1029).
[59] Sider, Rich Christians 73.
[60] Như trên. Ông lập luận rằng mặc dù luật nghi lễ không được áp dụng trong giáo hội nhưng luật đạo đức thì có. Luật dân sự dường như bị kẹt ở giữa. Sider lập luận rằng luật dân sự chứa đựng những nguyên tắc “được lồng vào” để “hướng dẫn giáo hội và thông báo sự hiểu biết của chúng ta về công bằng kinh tế cho xã hội.” Trong khi Sider là chắc chắn đúng rằng luật Cựu Ước nêu gương những nguyên tắc cho thấy con người có thể sống tốt nhất như thế nào cùng nhau, tác giả không rõ làm thế nào để tìm ra những nguyên tắc đó. Do đó, người ta sẽ tự hỏi liệu kết luận về cách thức hoạt động của nó thực sự có giá trị. Điều này thể hiện rõ ở sự mạnh mẽ của David Chilton khi chỉ trích công việc của Sider. Viết từ một góc nhìn khác, nhưng giống như Sider tuyên bố đi theo nguyên tắc Kinh thánh và đồng nhất giáo hội với Israel, Chilton đưa ra kết luận chính xác đối lập với Sider ((Productive Christians in an Age of Guilt-Manipulators [Tyler, TX: Institute for Christian Economics, 1986] 18–25).
[61] Sider, Rich Christians 233–35.
[62] Chilton, Productive Christians 34.
[63] Sider, Just Generosity 76–79.
[64] Jubilee 2000 (www.jubilee2000uk.org).
[65] B. Johnson characterizes it as “what is right and proper” (see, “טפָּשְׁמִ”,TDOT 9:92)
[66] “צָדֵק” TWOT 1879. Hartropp gợi ý rằng nó biểu thị “ý tưởng về sự phù hợp với một chuẩn mực; Và nó thường có ý nghĩa quan hệ” (What is Economic Justice? 14)