Đoàn sủng và hiệp hành trong truyền giáo

0
188

Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về Hiệp Hành đã kết thúc tại Rôma những tuần vừa qua. Một tiến trình dài và cụ thể đã được thực hiện để chuẩn bị cho sự kiện này. Trước đó đã có tài liệu làm việc ở cấp châu lục[1] cũng đã được phát hành, để giúp người Kitô hữu có được những cái nhìn khái quát về thành quả của các tiến trình hiệp hành ở cấp giáo phận và cấp quốc gia đã làm được. Đây là một nỗ lực rất lớn đến từ nhiều phía, nhiều cấp độ, nhiều chuyên môn khác nhau, để có được bản tài liệu làm việc ở cấp châu lục và để chuẩn bị cho giai đoạn quan trọng sắp tới.

Quả thực, điều này đã cho thấy một sự cộng tác tích cực của toàn thể Dân Chúa, để hướng đến tiến trình này của Thượng Hội Đồng, như Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã mời gọi toàn thể dân Chúa, hay nói cách khác là toàn thể Giáo hội, trong tiến trình hiệp hành là “bằng cách cùng nhau suy tư về hành trình đã qua, với sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, các thành viên trong Giáo hội sẽ có thể học hỏi kinh nghiệm và quan điểm của nhau (PD, 1). Được soi sáng bởi Lời Chúa và hiệp nhất trong lời cầu nguyện, chúng ta sẽ có thể phân định các diễn trình để tìm kiếm thánh ý Chúa và theo đuổi các con đường mà Thiên Chúa kêu gọi chúng ta – hướng tới sự hiệp thông sâu sắc hơn, tham gia đầy đủ hơn và với tinh thần cởi mở hơn để hoàn thành sứ mạng của mình trong thế giới.”[2]

Vì thế, hiệp hành là một lời mời gọi cho toàn thể các hội dòng, tu hội, tu đoàn và cách riêng cho tất cả những ai sống đời thánh hiến, cụ thể cho các cộng đoàn này tại Á Châu, là “chúng ta phải học làm sao để làm chứng mang tính ngôn sứ và “thì thầm” Tin Mừng cho nhau, điều trước hết đòi hỏi tích cực sống đức tin của mình được đặt nền tảng trên những cuộc gặp gỡ và trải nghiệm cá nhân với Chúa Giêsu và góp phần tạo nên cộng đoàn Giáo hội như một cộng đoàn hiệp thông.”[3]

Sự hiệp hành này có một sự nối kết với đoàn sủng của các hội dòng, tu hội, tu đoàn trong đời sống thánh hiến. Hiệp hành như là một cách lối mới trong việc rao giảng Tin Mừng. Các cách lối mới và sâu sắc này cần có để đáp ứng lại với những thách đố của Tin Mừng trong thế giới ngày nay, một thế giới bùng nổ về kỹ thuật và số hóa. Công cuộc rao giảng Tin Mừng này trong thế giới ngày nay là một trách nhiệm và Giáo hội đặt một niềm hy vọng lớn lao cho sứ vụ ấy. Điều này Giáo hội cũng hoàn toàn ý thức về vô vàn những khó khăn đang phải đối mặt trong công cuộc rao giảng Tin Mừng này, bởi những thay đổi thường xuyên xảy ra ở cấp độ cá nhân và xã hội và trên hết, là những khủng hoảng về lối sống hiện đại.

Hiệp hành diễn tả Giáo hội như là Dân Thiên Chúa trên một cuộc hành trình và như một đại hội được tập hợp bởi Thiên Chúa. Tiến trình này diễn tả rằng, Dân Thiên Chúa có kế hoạch và bước đi cùng nhau để thực thi sứ mạng rao giảng về vương quốc của Thiên Chúa cho dân chúng, cử hành cùng với nhau mầu nhiệm cứu độ và phân định cùng với nhau, để mang tâm tình và thông điệp của của Tin Mừng dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần cho thế hệ hiện tại của chúng ta, như trong tài liệu chuẩn bị cho Thượng Hội Đồng đã nói “Hiệp hành là để phục vụ cho sứ mạng của Hội thánh, mọi thành viên trong Hội thánh đều được mời gọi tham gia vào sứ mạng này.”[4]

Người tu sĩ với đặc sủng riêng của mình, được mời gọi để sống chiều kích này cách riêng biệt. Đó là quà tặng thiêng liêng mà họ được lãnh nhận qua đấng sáng lập, bởi một ân ban đặc biệt từ lòng thương yêu của Thiên Chúa (Rm 1,11; 5, 15; 6, 23; 11, 29; 2 Cr 1,11). Đặc sủng ấy theo quan điểm của Thánh Phaolô, nó không phải là một đặc ân dành riêng cho một vài cá nhân, mà còn cho cộng đoàn, vì “đặc sủng của các đấng sáng lập biểu lộ như một kinh nghiệm về Thần Khí, được truyền lại cho các môn đệ của họ để sống, gìn giữ, đào sâu và không ngừng phát triển trong sự hài hòa với Thân Thể Chúa Kitô đang không ngừng lớn lên.”[5] Ân ban của Chúa Thánh Thần được thực hiện trong phần thân thể Chúa Kitô là Giáo hội, và chính sự hoạt động của Chúa Thánh Thần được thể hiện qua “mối tương quan giao ước với Giáo Hội, bảo đảm tính hữu hiệu của các bí tích và các sứ vụ chính thức; và, thường bởi sự can thiệp của Ngài cách lôi cuốn mang tính ngạc nhiên và không thể đoán trước được.”[6] Quà tặng này được trao tặng cách nhưng không và được dùng để xây dựng cộng đoàn. Đoàn sủng này không phải như những ân ban phi thường, nhưng người đón nhận nó có thể sử dụng chúng trong những cách phi thường. Tuy nhiên, nếu không có lòng bác ái từ phía người đón nhận để mở lòng ra với điều này, thì đoàn sủng sẽ không có giá trị gì.

Đoàn sủng này cũng là một quà tặng của Chúa Thánh Thần trong ý hướng xây dựng Giáo hội, là thân thể của Đức Kitô. Tất cả những quà tặng của đoàn sủng nhận được từ Chúa Thánh Thần (1 Cr 12, 4-11) trong ‘Việc xây dựng Thân Thể Chúa Kitô’ là kết quả cuối cùng của đoàn sủng. Đây vốn là chức năng hàng đầu của Giáo hội xuyên suốt lịch sử, “đứng lên chống lại hệ thống xã hội được cấu trúc bởi sự thống trị hoặc tội lỗi, hoặc các thực thể lịch sử được đặc trưng bởi những điều này, để đưa họ vào một lộ trình mới, trở nên các thể chế hoàn hảo hơn để chuẩn bị cho việc Chúa đến trong ngày quang lâm của Ngài.”[7]

Do đó lời kêu gọi đến sự hiệp hành là một lời kêu gọi để nhìn lại sứ vụ nguyên thủy của Giáo hội, một phần của điều này là “Thần Khí Đức Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Đức Chúa” (Lc 4, 18-19). Vì vậy, các đoàn sủng qua những gì Chúa Thánh Thần cơ cấu Giáo hội bằng sự thúc đẩy từ bên trong các việc phục vụ và chức năng cần được hoàn tất trong trách nhiệm ưu tiên của Giáo hội, tùy theo sự phong phú và nét riêng biệt của mỗi thành viên.

Đoàn sủng và bí tích rửa tội

Qua việc lãnh nhận bí tích rửa tội, người Kitô hữu đón nhận Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho họ nhận biết rằng “Đức Giêsu là Chúa”(1 Cr 12,3) và làm cho họ kêu lên rằng “Abba”. Qua cùng một Chúa Thánh Thần, người Kitô hữu trở nên con cái Thiên Chúa, thành viên của gia đình Giáo hội, cùng một Chúa Thánh Thần này sẽ canh tân và tiếp thêm sinh lực cho đời sống thiêng liêng của người Kitô hữu. Trong bí tích thêm sức, người được rửa tội lãnh nhận bảy ơn Chúa Thánh Thần. Với ơn Chúa Thánh Thần ban, sẽ làm nảy sinh hoa trái thiêng liêng nơi tâm hồn người lãnh nhận như một ân ban cá vị và điều này cho phép Chúa Thánh Thần hoạt động trong họ. Đó là bảy ơn “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ” (Gl 5, 22-23). Những hoa trái của Chúa Thánh Thần ban qua Bí tích Rửa Tội và Bí tích Thêm Sức sẽ phát sinh hiệu qủa ra sao, là tùy thuộc vào sự cộng tác của cá nhân với Chúa Thánh Thần. Bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa không trở nên một sự ép buộc trong chúng ta, nhưng Thần Khí của Chúa trở nên như làn gió nhẹ nhàng (1 V 19, 11-12). Thì thầm trong tai nơi những người cộng tác với Thần Khí. Và cùng Thần Khí này sẽ ở cùng Giáo hội đến tận cùng thời gian (Mt 28, 20). Chúa Thánh Thần hướng dẫn, hiệp nhất Giáo hội trong sự hiệp thông và hoạt động mục vụ tông đồ :

 “Chúa Thánh Thần ngự trong Giáo Hội và trong tâm hồn các tín hữu như trong đền thờ (x. 1 Cr 3,16; 6,19). Ngài cầu nguyện trong họ và chứng thực họ là nghĩa tử (x. Gl 4,6; Rm 8,15-16.26). Ngài dẫn Giáo Hội đến sự thật toàn vẹn (x. Ga 16,13), và hợp nhất Giáo Hội trong sự hiệp thông và trong tác vụ, Ngài xây dựng và hướng dẫn Giáo Hội với nhiều hiện sủng và đoàn sủng khác nhau, Ngài trang điểm Giáo Hội bằng các hoa trái của Ngài (x. Ep 4,11-12; 1 Cr 12,4; Gl 5,22). Nhờ sức mạnh Tin Mừng, Ngài không ngừng canh tân và làm cho Giáo Hội luôn tươi trẻ, dẫn đưa Giáo Hội đi đến kết hợp hoàn toàn với Phu Quân của mình.”[8]

Chính vì điều này, Chúa Thánh Thần, Đấng tỏ lộ chính Ngài qua đời sống của đấng sáng lập của một cộng đoàn sống đời thánh hiến. Các Đấng sáng lập khám phá ra rằng, họ có khả năng đón nhận những ân ban riêng biệt mà Chúa ban cho họ. Họ thủ đắc Thiên Chúa trong mọi thứ và trong mọi người xung quanh họ. Điều này có thể nói như Loren Eiseley đề xuất rằng, họ có một con mắt với hai thấu kính, một nhìn dưới nước và một nhìn trên nước.[9] Với cái nhìn thấu thị như vậy, đấng sáng lập có khả năng nhìn thấy, khám phá và đáp trả lại những như cầu đang xuất hiện trong thời đại của các ngài, đặt những quà tặng của Chúa Thánh Thần vào trong thực hành, và một thấu kính khác được ban cho tất cả mọi người, mà những gì chúng ta gọi là con mắt nội tại.

Vì thế hiệp hành là lời mời mời gọi cho cả Giáo hội và cộng đoàn thánh hiến tái thiết lập mỗi ngày đoàn sủng của mình. Hay nói khác đi đó chính là một cuộc hoán cải nội tâm mỗi ngày. Đó là một cuộc canh tân liên lỷ trong đời sống thiêng liêng và đoàn sủng. Lời mời gọi này được thực hiện cả trên bình diện cá nhân và cộng đoàn. Đồng thời điều này cách sâu sắc hơn đó còn là cuộc canh tân linh đaọ của cộng đoàn thánh hiến. Luôn luôn trên hành trình về nguồn để làm sống động hóa đoàn sủng của mình trong thế giới hiện tại, một thế giới dễ bị tổn thương bởi các giá trị vật chất và cần được sự chữa lành.

Hiệp hành là lời mời gọi mỗi thành viên của đời sống thánh hiến sống ơn gọi Bí tích Rửa tội và ơn gọi trong một linh đạo cụ thể để sống sâu sắc hơn tính cách đoàn sủng này. Đó là một lối sống tròn đầy trong đức tin, đức cậy và đức mến, niềm vui đến từ việc tìm kiếm và tái tìm kiếm viên ngọc quý giá bị chôn dấu trong ruộng (Mt 13: 46). Đời sống thánh hiến từ những ân ban được lãnh nhận từ Chúa Thánh Thần trở nên một hình thái của sự hiệp hành. Một cộng đoàn sống ân ban của Chúa Thánh Thần để mang lại ích lợi cho bản thân và cho người khác. Bên cạnh đó, chính lối sống mang tính đoàn sủng đó trở nên khuôn mặt của một Hội thánh hiệp hành. Hiệp hành là một sự quay lại với những thông điệp và thách đố của Tin Mừng, nhưng liên quan đến những điều mới và đặc biệt, một cách mới của việc gặp gỡ những thách đố của Tin Mừng, một tiếp cận tươi mới, quan tâm hơn đến nhu cầu của thời đại. Điều này mang đến một sự mới mẻ và tươi mát, điều đã tính cách hóa đoàn sủng của mỗi cộng đoàn thánh hiến. Điều này không chỉ cho một cộng đoàn thánh hiến, mà còn cho cả Giáo hội. Tính cách này cần đi từ từ cộng đoàn cơ bản, cộng đoàn địa phương, trong sự đáp ứng với những đòi hỏi của công cuộc rao giảng Tin Mừng trong một hoàn cảnh riêng biệt.

Hiệp hành và phân định ơn gọi, tìm kiếm ơn gọi

Trong tài liệu Thượng Hội Đồng hướng tới một linh đạo hiệp hành. Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã đề cao việc phân định trong tiến trình hiệp hành. Đó là “phân định luôn là một hành động qui hướng về Thiên Chúa; nó được hướng dẫn bởi tình yêu Đức Kitô và khát vọng của chúng ta muốn phục vụ Người sâu xa hơn và xây dựng Thân Thể Người là Giáo hội.”[10] Trong đời sống ơn gọi tu trì, tiến trình ơn gọi này đòi hỏi chúng ta cùng có sự phân định cùng nhau, phân định ơn gọi để giúp các ứng sinh nhận ra ơn gọi phù hợp cho đời sống dâng hiến của mình. Tiến trình này là cần thiết và quan trọng trọng việc đồng hành ơn gọi trong bối cảnh ơn gọi đang tụt dốc cách thê thảm trong Giáo hội. Sự phân định ơn gọi cùng nhau này không phải là tiến trình của sự “cạnh tranh”, mà là khám phá những mầm non ơn gọi phong phú theo các đoàn sủng khác nhau, mà các ứng sinh đang muốn dấn thân.

Tài liệu về Thượng Hội Đồng cấp châu lục, cách riêng ở Á châu[11], đã đề cập tới việc căng thẳng trong ơn gọi linh mục mà nguyên nhân đến từ việc tục hóa đang diễn ra cách nghiêm trọng và sâu rộng trong đời sống dân Chúa và những bê bối về mặt tính dục của các giáo sỹ đã diễn ra gần đây trong Giáo hội. Như vậy các cộng đoàn tu trì cần có phương thức làm việc cùng nhau để có thể có được một tiến trình phân định ơn gọi tốt cho các ứng sinh linh mục và tu sĩ trong mục vụ ơn gọi của mỗi cộng đoàn tu trì này.

Hiệp hành và phân định Thần Khí

Trong tiến trình thực thi sứ vụ truyền giáo trong Giáo hội, các cộng đoàn trong đời sống thánh hiến sẽ cùng nhau để phân định Thần Khí trong sứ vụ này của mình. Giáo hội đã thừa nhận rằng nơi các tôn giáo khác và nơi đời sống của dân chúng vẫn ẩn chứa những hoa trái tốt lành của hoạt động của Chúa Thánh Thần ở ngoài giáo hội. Chúng là những yếu tố cốt lõi của đời sống tinh thần của những người tin ở những tôn giáo khác. Và tất cả những giá trị Tin Mừng này xảy ra trong đời sống của dân chúng, như một phần của của kế hoạch ơn cứu độ của Thiên Chúa dành cho loài người. Như Công đồng Vatican II tuyên bố rằng “Chúa Thánh Thần ban cho mọi người khả năng tham dự vào mầu nhiệm Phục Sinh ấy theo cách thế mà chỉ có Chúa biết.”[12] Sau này một tài liệu của Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu cũng khẳng định “sự quan phòng của Thiên Chúa, những bằng chứng tốt lành, và kế hoạch cứu độ mở rộng đến mọi người. Đó là sự yếu tố sự thật và thánh thiện nơi các tôn giáo khác.”[13] Đặc biệt trong bối cảnh Á châu, sự cộng tác trong phân định Thần Khí là điều quan trọng. Tuy nhiên, thông thường trong tiến trình truyền giáo, đôi khi các cộng đoàn thánh hiến hoặc Giáo hội địa phương chỉ quan tâm và đề cao những giá trị tốt đẹp nơi các giá trị tinh thần của các niềm tin khác, mà bỏ quyên sự phân định cả những điều tiêu cực, mê tín, thuyết định mệnh… “cái mà đã làm cho dân chúng mắc kẹt trong sự dửng dưng, nghèo đói và đau khổ, để giúp họ mở lòng ra với Chúa Thánh Thần và từ đó mới có thể giúp họ thay đổi đời sống.[14]

Cho nên, tiến trình phân định Thần Khí trong truyền giáo là một yếu tố quan trọng cần được chú ý và thực hành tiệm tiến trong công cuộc rao giảng Tin Mừng. Trong Đối thoại và Rao truyền đã nói về tiến trình phân định này cách rõ ràng “Những hoa trái của Thánh Thần của Thiên Chúa trong đời sống riêng tư của mỗi cá nhân, dù là Kitô hữu hay không, đều có thể dễ dàng nhận thấy (x. Ga 5:22-23). Việc xác định trong các truyền thống tôn giáo khác những yếu tố ân sủng có khả năng duy trì phản ứng tích cực của các thành viên trước lời mời gọi của Thiên Chúa thì khó hơn nhiều. Nó đòi hỏi một sự phân định về những tiêu chí nào phải được thiết lập. Những cá nhân chân thành được Chúa Thánh Thần ghi dấu, chắc chắn đã để lại dấu ấn trong việc xây dựng và phát triển các truyền thống tôn giáo tương ứng của họ. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là mọi thứ trong đó đều tốt.”[15] Tiến trình này đòi hỏi một sự hiệp hành giữa các cộng đoàn sống đời thánh hiến và ngay chính với các giáo hội địa phương, nơi các cộng đoàn hiện diện và rao giảng Tin Mừng.

Hiệp hành để phục vụ một thế giới tan vỡ và tổn thương

Đại dịch vovid-19 đã là khoảng thời gian kinh hoàng trong lịch sử của nhân loại. Nó là nguyên nhân gây ra biết bao đau khổ cho con người. Hậu quả của nó thì xảy ra khắp nơi và người nghèo luôn là người chịu thiệt thòi nhất. Với trận địa dịch này, nó đã đặt ra với biết bao nhiêu là thách đố đối với người dân trong các lĩnh vực xã hội, văn hóa, chính trị, sức khỏe. Điều này không chỉ xảy ra ở lĩnh vực thể lý mà con ở trên bình diện tinh thần. Do đó các cộng đoàn thánh hiến, với linh đạo của mình được mời gọi phục vụ các phần tử đau khổ của thân mình Chúa Kitô,[16] trong đó người nghèo là người chịu tác động và gặp nhiều khó khăn nhất. Giai đoạn hậu Covid là một giai đoạn mới của Giáo hội để làm chứng nhân cho Tin Mừng của Chúa Giêsu cho một thế giới bị tổn thương và đổ vỡ.

Giáo hội phải tìm cách để diễn đạt căn tính của chính mình như là giáo hội đích thực của Chúa Kitô trong sự liên đới với các phần tử đau khổ trong thân mình Đức Kitô. Đồng thời Giáo hội, qua linh đaọ chuyên biệt của các cộng đoàn thánh hiến, có thể trở nên cách diễn đạt tốt nhất về một Giáo hội khoan nhân và xót thương qua các công việc bác ái. Điều này có nghĩa rằng, các cộng đoàn thánh hiến cần thiết tỏ lộ sự liên đới của mình với người nghèo bằng cách hỗ trợ họ trong những giai đoạn khó khăn và đau khổ mà họ đang đối diện trong hoàn cảnh của mình.

Hiệp hành với người nghèo

Trở thành một Giáo hội của người nghèo, Giáo hội qua các cộng đoàn thánh hiến, nên tiếp cận việc truyền giáo bằng việc chia sẻ đời sống với người nghèo trong chính thực tại của họ. Để thực hiện vai trò này, các cộng đoàn thánh hiến cần chọn lựa ưu tiên hoạt động cho người nghèo trong các hoạt động của mình, khẳng định rằng người nghèo là một nhân tố ưu tiên trong kế hoạch cứu độ “trong sự nhiệt thành không ngừng nghỉ để ngày càng trở nên Giáo hội của người nghèo hơn.”[17]

Trong cảm thức này, Giáo hội, qua các cộng đoàn thánh hiến không phải là một hòn đảo giữa một biển khơi của đau khổ và đói nghèo. Mà tất cả cần làm việc cho sự phát triển con người, tôn trọng nhân phẩm người nghèo, điều chỉnh bản thân trong nền văn hóa của người nghèo, và đứng cùng với người nghèo trong những hoàn cảnh khó khăn trong đời sống của họ để tìm kiếm công lý cho họ. Cách thực hành này là một viễn tượng của sư vụ của Đức Kitô như là lời loan báo có tính ngôn sứ “Thần khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong cho tôi, để tôi loan Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” (Lc 4,18). Hiệp hành với người nghèo trong giai đoạn này của xã hội là một yếu tố quan trọng và cần thiết. Nó cần được làm ngay và trên mọi bình diện như Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nói trong Thông điệp Fratelli Tutti:

 “Thông thường, những người thấp kém trong xã hội là nạn nhân của những khái quát hóa đầy bất công. Nếu đôi khi người nghèo và người bị loại trừ phản ứng bằng những thái độ xem ra chống lại xã hội, chúng ta cần phải hiểu rằng trong nhiều trường hợp những phản ứng ấy phát xuất từ một lịch sử trong đó họ bị xã hội khinh miệt và loại trừ. Các giám mục châu Mỹ La tinh đã nói rằng “chỉ bằng cách gần gũi với người nghèo chúng ta mới trở thành bạn hữu của họ, mới biết trân trọng cách sâu xa các giá trị họ đang có, các khao khát chính đáng của họ, và cách sống đức tin đặc thù của họ. Việc chọn lựa người nghèo phải đưa chúng ta đến chỗ làm bạn với người nghèo.”[18]

Đây là một tiến trình hiệp hành thực sự mà mỗi cộng đoàn thánh hiến đều được kêu gọi để cùng bước đi với người nghèo trong chính đời sống hiện thực của họ. Điều này diễn tả một lối sống của Giáo hội hiệp hành với những người nghèo và những người bị loại ra ngoài lề của xã hội.

Kết luận

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói với Đức Giám Mục nhân dịp kỷ niệm 50 năm Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới rằng “thế giới mà chúng ta đang sống, và trong đó chúng ta được kêu gọi để yêu thương và phục vụ, thậm chí với chính sự mâu thuẫn, những yêu cầu từ giáo hội sức mạnh hợp lực trong tất cả các lĩnh vực của chính sứ vụ truyền giáo.”[19] Như vậy các cộng đoàn thánh hiến là một phần của sức mạnh tổng hợp đó trong một tiến trình hiệp hành của Giáo hội trong công cuộc truyền giáo. Sức mạnh này phong phú và đa dạng tùy theo đoàn sủng của mỗi cộng đoàn thánh hiến. Nhưng dù có sự khác nhau về linh đạo, nhưng đó không phải là sự phân mảnh, mà là một sự phong phú trong tiến trình hợp nhất để làm cho Tin Mừng của Đức Kitô hiệu quả trong thế giới ngày nay.

Lm Phêrô Phạm Minh Triều, CM

[1] Xin xem thêm: “Tài liệu làm việc cho Giai đoạn châu lục của Thượng Hội đồng Giám mục về tính hiệp hành 2021-2024, với chủ đề ‘Hãy nới rộng lều ngươi đang ở’ (Is 54,2)”, cập nhật tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tai-lieu-lam-viec-cho-giai-doan-chau-luc-cua-thuong-hoi-dong-giam-muc-ve-tinh-hiep-hanh-2021-2024-48805, (15/09/2023).

[2] Cẩm nang cho Thượng Hội đồng Giám mục về tính hiệp hành, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/cam-nang-cho-thuong-hoi-dong-giam-muc-ve-tinh-hiep-hanh-42941,  (15/09/2023).

[3] Tài liệu Cuối cùng của Đại hội Cấp châu lục của Giáo hội Á châu về tính hiệp hành, xem tại: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tai-lieu-cuoi-cung-cua-dai-hoi-cap-chau-luc-cua-giao-hoi-a-chau-ve-tinh-hiep-hanh-50697, (15/09/2023).

[4] Cẩm nang cho Thượng Hội đồng Giám mục về tính hiệp hành, xem tại  https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/cam-nang-cho-thuong-hoi-dong-giam-muc-ve-tinh-hiep-hanh-42941, (10/09/2023).

[5] Bộ Tu Sĩ và Bộ Giám mục, Văn kiện Mutuae Relationes (MR- Mối tương quan giữa các Giám mục với các tu sĩ) (14/5/1978), số 11.

[6] Francis A. Sullivan, Charisms and Charismatic Renewal: A Biblical and Theological Study (Dublin: Gill & Macmillan, 1982), 47.

[7] Ericque Dussel, The Difirentiation of the Charisms, in Charisms in the Church, ed. Christian Duquoc and Casiano Floristan (New York: the Seabury, 1978), 41.

[8] Công Đồng Vatican II, Lumen Gentium, # 4.

[9] Loren Eiseley, The Invisible Pyramid (New York: Charles Scribner & Son, 1970), 119-120.

[10] Tiểu ban linh đạo hiệp hành, “Tài liệu Thượng Hội đồng: Hướng tới một linh đạo hiệp hành,” xem tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tai-lieu-thuong-hoi-dong-huong-toi-mot-linh-dao-hiep-hanh-50500,  (15/09/2023).

[11] Xin xem thêm: “Tài liệu Cuối cùng của Đại hội Cấp châu lục của Giáo hội Á châu về tính hiệp hành”, tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tai-lieu-cuoi-cung-cua-dai-hoi-cap-chau-luc-cua-giao-hoi-a-chau-ve-tinh-hiep-hanh-50697,  (20/09/2023).

[12] Công Đồng Vatican II, Gaudium et Spes, # 22.

[13] Jacques Dupuis, “A Persistent Vision: the Primacy of Proclaimation in FABC Statement,” FABC Papers, no. 64 (Korea:1992), 7.

[14] Hội đồng Giáo hoàng về Đối thoại Liên tôn, Đối Thoại và Rao Truyền, # 30-31.

[15] Ibid.

[16] FABC-OCT, “the Body of Christ in the Pandemic: Theological Reflections from Asian Perpectives,” FABC papers, no. 169 (2022), 5.

[17] Benedict T. Viviano, “The Anawim Spirituality of the Vatican II Council,” tại https://www.dominicanajournal.org/wp-content/files/old-journal-archive/vol51/no4/dominicanav51n4anawimspiritualityvaticanii.pdf,  (15/09/2023).

[18] Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Fratelli Tutti, # 234.

[19] Pope Francis, Commemoration of The 50th Anniversary of the Institution of The Synod of Bishop (October 17, 2015,) no. 9, tại Vatican.va, (15/09/2023).