Thánh Vinh Sơn Phaolô trong việc phục vụ của các linh mục

“Phẩm chất của chức linh mục là sự tham gia vào chức tư tế của Con Thiên Chúa. Ngài ban cho họ quyền tiến dâng hy lễ của thân mình ngài, và ban Mình Thánh Ngài làm lương thực sự sống đời đời cho những ai lãnh nhận. Đó là một phẩm chất thiêng liêng và vô song, một quyền năng trên Mình Thánh Chúa Giêsu Kitô mà các thiên thần tôn thờ và một quyền năng tha tội, một điều khiến họ kinh ngạc và tạ ơn. Có điều gì đáng ngưỡng mộ hơn hay vĩ đại hơn thế không?… Một linh mục tốt lành không thể làm được gì? Có bao nhiêu sự hoán cải mà vị ấy không thể mang lại?… Sự thịnh vượng của Kitô giáo phụ thuộc vào linh mục” (Louis Abelly, Cuộc đời của Tôi tớ đáng kính của Chúa: Vincent de Paul, do John E. Rybolt, CM biên tập, [New City Press: New Rochelle, N.Y., 1993] Tập II, trang 253).
Đoạn văn này nổi tiếng trong các tác phẩm về Thánh Vinh Sơn. Nó đặt chúng ta vào chính trọng tâm của điều mà tạo nên phẩm chất tốt đẹp nhất của Thánh Vinh Sơn Phao lô: chức tư tế của Chúa Giêsu Kitô; một linh mục dành cho người nghèo. Tuy nhiên, hành trình của Thánh Vinh Sơn đến vị trí đó có vẻ hơi hỗn loạn, nhưng nếu ta chấp nhận rằng Thánh Vinh Sơn đã từng bước đón nhận sự cao cả của ơn gọi linh mục của mình như được hiểu trong thế kỷ XVII, tức là thời điểm mà tinh thần của Công đồng Trentô bắt đầu thức tỉnh mọi người về nhu cầu canh tân, thì hành trình của Thánh Vinh Sơn có thể được xem như một bước tiến chậm nhưng vững chắc.
Thánh Vinh Sơn đã được kêu gọi và với tính cách năng động và nhiệt huyết của mình, ngài đã chấp nhận thử thách đáp lại tiếng gọi của Chúa. Bắt đầu từ năm 1613, chúng ta có thể nói rằng Thánh Vinh Sơn là một linh mục tốt lành và là một mục tử nhiệt thành. Ngài đã nội tâm hóa và cá nhân hóa ơn gọi của mình; ngài đã trở thành một người của cầu nguyện, một người đọc sách chuyên tâm một cách siêng năng, một nhà thuyết giảng xuất sắc, một người dạy giáo lý nổi bật và ngài được bao quanh bởi các linh mục và giáo dân sốt sắng và mộ đạo: “Lạy Chúa, xin ban cho chúng con tinh thần chức tư tế của Chúa, mà các tông đồ và các linh mục đầu tiên kế vị họ đã có; xin ban cho chúng con tinh thần đích thực của đặc tính thánh thiện này mà Chúa đã ban cho những ngư phủ đáng thương, thợ thủ công và những người thiếu thốn thời đó, những người mà, nhờ ân sủng của Chúa, Chúa đã truyền đạt tinh thần thiêng liêng cao cả này. Vì chúng con cũng chỉ là những người yếu đuối, lạy Chúa, những người lao động và nông dân nghèo khó; và có sự so sánh nào giữa chúng con, những người khốn khổ, với một chức vụ thánh thiện, cao cả, trên trời như vậy không” (CCD XI, 278-279).
Năm 1617, chúng ta thấy rằng Thánh Vinh Sơn đã được chuẩn bị tốt về mặt thiêng liêng cho sứ vụ của mình. Chúng ta biết rằng từ các bài thuyết giảng của mình, Ngài cảm thấy tất cả điều này là kết quả của ân sủng Chúa. Khi một người thân của ngài đang cân nhắc ơn gọi linh mục, Thánh Vinh Sơn đã viết thư cho người đó và nói: “Nếu tôi biết được điều đó khi tôi dám bước vào – như tôi đã biết kể từ đó – tôi thà làm ruộng còn hơn là dấn thân vào một đời sống đầy thử thách như vậy” (CCD V, 569). Những lời này chứng tỏ ngài nhận thức được những đòi hỏi của chức linh mục. Thánh Vinh Sơn đã khiêm nhường để tôn vinh phẩm giá của chức linh mục. Ngài đã tiếp thu tinh thần của thời đại mình. Tại Paris, ngài đã bang giao với những người tiên phong của trường phái linh đạo Pháp và chịu ảnh hưởng lớn bởi Pierre Bérulle, người coi chức linh mục là “một Đức Kitô khác”.
Thánh Vinh Sơn rất coi trọng bí tích Truyền chức: Không có gì cao trọng hơn một linh mục, người mà Chúa Kitô ban cho toàn quyền trên Thân Thể tự nhiên và huyền nhiệm của Ngài, quyền tha tội, v.v. (CCD XII, 75). Linh mục khích lệ, sinh động và dạy dỗ toàn thể Thân Thể huyền nhiệm; ngài là điểm kết hợp và hòa giải, và cầu nguyện cùng dân mình. Con đường thánh thiện được tìm thấy trong việc tự định hình mình theo Chúa Kitô, là thượng tế. Tất cả các linh mục và giáo dân đều được mời gọi sống trong trạng thái thánh thiện này. Các linh mục được mời gọi một cách rất đặc biệt, nghĩa là, giống như Chúa Kitô, họ được mời gọi thực hành hai đức tính cao cả: tôn kính Chúa Cha, lòng thương xót và tình yêu thương hữu hiệu đối với người nghèo (Hiến pháp CM, # 6). Sự tôn thờ và truyền giáo là hai chủ đề chính trong giáo huấn của Pierre Bérulle. Theo Thánh Vinh Sơn, linh mục nên cử hành các bí tích với lòng tôn kính sâu sắc: Đối với chúng ta, việc cử hành Thánh lễ thôi chưa đủ, mà chúng ta còn phải dâng hiến hy sinh này với lòng sùng kính cao cả nhất có thể, phù hợp với ý muốn của Chúa, tự mình tuân phục, trong khả năng của chúng ta, nhờ ân sủng của Ngài, giống như Chúa Giêsu Kitô đã hiến dâng chính mình khi Ngài ở trần gian, dâng hiến làm hy tế cho Cha hằng hữu của Ngài (CCD XI, 83).
Thánh Vinh Sơn không tách rời linh đạo của linh mục khỏi linh đạo của những người nam nữ đã được rửa tội. Ngài thường nói rằng Tu hội của ngài gồm những người giáo dân sống đời sống chung của người Kitô hữu và ở trong trạng thái đời sống tu sĩ của Thánh Phêrô (CCD XII, 306). Ngài không trình bày một linh đạo nào có thể được gọi là linh đạo linh mục đúng nghĩa hay linh đạo mục vụ/truyền giáo. Đối với Thánh Vinh Sơn, để trở thành một linh mục hay một tu sĩ, người ta phải khẳng định lại phẩm giá Bí tích rửa tội của mình và chính điều này đã tạo nên nét đặc biệt cho Tu hội. Tuy nhiên, đồng thời, Thánh Vinh Sơn cũng đề cập đến linh đạo linh mục khi hướng dẫn các ứng viên chịu chức, trong các buổi Hội thảo Thứ Ba và có những buổi nói chuyện với những người phụ trách việc đào tạo các nhà truyền giáo.
Trên hết, linh mục xây dựng Thân Thể Mầu Nhiệm của Chúa Kitô, gánh lấy gánh nặng của những người bất hạnh trong xã hội: Những người nghèo ấy dâng hiến của cải cho chúng ta vì mục đích đó; Trong khi họ đang làm việc và vật lộn với nghèo đói, chúng ta giống như Môsê và phải liên tục giơ tay lên trời cầu nguyện cho họ (CCD XI, 191).
Công việc đào tạo linh mục thật vĩ đại! Cần có những con người mới để phục vụ những mối quan tâm mới của mọi người. Vì vậy, Thánh Vinh Sơn nhận thấy cần phải thành lập các chủng viện để đời sống thiêng liêng của linh mục được phát triển. Năm 1631, chúng ta thấy sự quan tâm lớn lao của Thánh Vinh Sơn đối với các ứng viên chịu chức và năm 1641, ngài đã thành lập chủng viện đầu tiên ở Annecy. Việc đào tạo các linh mục tốt trở thành mối quan tâm lớn của ngài: “Tôi tạ ơn Chúa vì con số các linh mục mà Giám mục của …. đang gửi đến cho các anh em. Các cha sẽ có rất nhiều nếu các cha chịu khó đào tạo họ theo đúng tinh thần của chức thánh, đặc biệt là đời sống nội tâm, việc thực hành cầu nguyện và các nhân đức. Không đủ chỉ dạy họ hát thánh ca, nghi lễ và một chút thần học luân lý; điều quan trọng là phải đào tạo họ thành những người có lòng đạo đức và sự tận tụy vững chắc. Để làm được điều đó, thưa cha, chúng ta phải là những người đầu tiên được tràn đầy những điều trên, vì sẽ gần như vô ích nếu chỉ hướng dẫn họ về những điều này mà không nêu gương. Chúng ta phải là những hồ chứa đầy nước để nước của chúng ta có thể tràn ra mà không bị cạn kiệt, và chúng ta phải có tinh thần mà chúng ta muốn truyền cảm hứng cho họ, vì không ai có thể cho đi cái mà mình không có” (CCD IV, 570).
Tuy nhiên, ẩn sâu bên dưới tất cả là mối quan tâm đến ơn cứu độ đời đời của dân Chúa, đặc biệt là những người bị Giáo hội bỏ rơi. Phong cách đào tạo độc đáo của Tu hội do thánh Vinh Sơn thành lập nằm ở sự tập trung vào người nghèo: Còn một điều nữa: Giáo hội cần những linh mục tốt lành để bù đắp cho tất cả sự ngu dốt và tệ nạn đang bao trùm trái đất và để cứu Giáo hội nghèo nàn khỏi tình trạng đáng thương, đến nỗi những tâm hồn tốt lành phải khóc ra nước mắt máu (CCD XII, 76).
Quan điểm này trùng khớp với hành trình thiêng liêng của Thánh Vinh Sơn; nó khẳng định hành động của ngài và làm nổi bật sứ vụ của ngài đến nỗi ngày nay chúng ta vẫn có bổn phận lương tâm phải trả lời những câu hỏi mà ngài đã nêu ra: “Chẳng phải những người nghèo là những thành viên đau khổ của Chúa chúng ta sao? Chẳng phải họ là anh chị em của chúng ta sao? Và nếu các linh mục bỏ rơi họ, thì theo các anh em, ai sẽ giúp đỡ họ?” (CCD XII, 77).
Nguồn: vincentians.com/
Ban Truyền thông chuyển ngữ.
