NIỀM VUI TIN MỪNG VÀ CANH TÂN TIN MỪNG

0
817

                                       Daniel Franklin E. Pilario, C.M

Vào ngày 28 tháng 3 năm 2013, chỉ hai tuần sau khi được chọn làm giáo hoàng, Đức Phanxicô đã cử hành thánh lễ làm phép dầu tại Vương Cung Thánh Đường Phêrô ở Rôma. Trong lần xuất hiện chính thức đầu tiên trước hàng giáo sĩ trong giáo phận mình, Đức Thánh Cha đã thẳng thắn nói với các giáo sĩ lý do tại sao lại có các linh mục buồn rầu, tại sao nhiều giáo xứ trong thời đại của chúng ta không có niềm vui. “Thật vậy, đó là nguyên nhân dẫn đến sự bất mãn của một vài người thấy mình buồn rầu – thấy mình là những linh mục buồn phiền – theo nghĩa là trở nên các thu thuế khi xưa hay các thu thuế mới lạ, chứ không phải là những mục tử có ‘mùi chiên’. Tôi đòi hỏi các linh mục điều này là: hãy là các mục tử, có mùi chiên, hãy biến điều đó thành hiện thực, như những mục tử ở giữa bầy chiên, như những ngư phủ.”[1] Điều này đã được trình bày đầy đủ có hệ thống trong toàn bộ thông điệp Niềm Vui Tin Mừng. Bài viết này cố gắng đọc tông huấn Niềm Vui Tin Mừng với ba mục tiêu sau: (1) Hiểu những khủng hoảng trong Giáo hội ngày nay như Đức Phanxicô hiểu chúng. (2) Vạch ra những hướng dẫn nền tảng trong Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng để cố gắng đáp ứng khủng hoảng đó, và (3) Chỉ ra một vài kinh nghiệm song song với mẫu gương của thánh Vinh Sơn để có thể giúp cho tình trạng ngày nay của chúng ta.

1. Một Giáo Hội khép kín, một thế giới khép kín và giải pháp

Nếu tôi tóm tắt Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng thành ba phần, thì sẽ như sau: a) vấn đề của Giáo hội trong thời đại của chúng ta là thiếu niềm vui, lòng nhiệt thành trong việc loan báo Tin Mừng; b) nguyên nhân chính yếu là do cách suy nghĩ loại trừ và quy chiếu về mình; c) giải pháp nằm ở cách suy nghĩ trong sự gặp gỡ và truyền giáo, nghĩa là đến với những vùng ngoại biên và có mùi chiên của mình.

Ngày nay, nhiều nhà truyền giáo trông như những người tín hữu chỉ có “mùa Chay mà không có mùa Phục Sinh” (EG 6), thường xuyên trông “giống với người vừa trở về từ đám tang” (EG, 10). Trong một xã hội tiêu thụ ngập tràn những tiếng ồn ào của công nghệ, có rất nhiều điều thú vị, nhưng không có chỗ cho niềm vui. Đời sống người mục tử “bị trói chặt trong những lợi ích và những mối quan tâm riêng của mình, thì không còn chỗ cho người khác, không còn chỗ cho người nghèo.” (EG 2).

Đức Phanxicô xác định nguyên nhân của sự buồn rầu này là do sự tự mãn, tự vệ và sự quy chiếu vào mình. Ngài xác nhận“thế tục tinh thần” (spiritual worldliness) – một hạn từ của Henry De Lubac được chấp nhận – như là thủ phạm chính. Trong một buổi phỏng vấn gần đây, Đức Thánh Cha nói: “Một mẫu gương tôi thường sử dụng để minh họa cho thực tế của việc khoe khoang, là: hãy nhìn vào con chim công, nó thật đẹp nếu bạn nhìn nó từ phía trước. Nhưng nếu bạn nhìn nó từ phía sau, bạn sẽ thấy sự thật…. bất cứ ai thừa nhận có tính khoe khoang tự mãn như thế thì sự bất hạnh khủng khiếp đang ở nơi họ”[2]. Ngài phân tích bao quát sự khủng hoảng trong việc dấn thân của những mục tử trong Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng (79-109), và kể ra một vài khủng hoảng như sau:

Lối suy nghĩ có tính quy chiếu vào mình không chỉ xuất hiện như là “cơn cám dỗ” đối với các mục tử có tính cá nhân; nó cũng chính là nguyên nhân gây rắc rối trong tổ chức của Hội thánh. Trong buổi hội nghị trước khi bầu cử Đức Giáo Hoàng, đức hồng y Bergolio là người thuyết trình, ngài chia sẻ về 2 hình ảnh của Hội thánh và thách thức của việc rao giảng Tin Mừng trong thời đại của chúng ta. Bài giảng tự phát (không cần soạn ra giấy) vào ngày 9/3/2013 đã tạo ra một ấn tượng mạnh mẽ trên tất cả những hồng y hiện diện hôm đó. Phần ghi chú được viết bằng tay của ngài được trích dẫn dưới đây rất giá trị.

“Khi quy chiếu về chính mình, không nhận ra mình, Giáo hội sẽ cho rằng mình có ánh sáng riêng; Giáo hội không còn là ánh sáng huyền nhiệm nữa “mysterium lunae” và gây ra tội lỗi trầm trọng, gây ra tội về thế tục tinh thần (mà theo Henri Lubac, đó là tội lớn nhất mà Giáo hội có thể phạm); gây ra tội “xông hương cho nhau”. Để cho dễ hiểu hai hình ảnh của Giáo hội: (1) Giáo hội loan báo Tin Mừng là Giáo hội đi ra khỏi chính mình; Giáo hội loan báo Tin Mừng là Giáo hội lắng nghe cách nhiệt tâm và trung thành loan báo Lời Chúa, hoặc (2) Giáo hội thuộc về thế gian là Giáo hội sống trong chính mình, thuộc về chính mình, và dành cho chính mình. Điều này nên soi chiếu vào những thay đổi và những cải cách để Giáo hội nhận ra chính mình dành cho ơn cứu độ các linh hồn”.[3]

Phân tích nền tảng này về sự khủng hoảng trong Giáo hội ở thời đại của chúng ta được vang vọng trong toàn bộ tông huấn Niềm Vui Tin Mừng và trong nhiều bài giảng của Đức Phanxicô. Trong thông điệp Mọi Người Là Anh Em (2020) mới nhất, Đức Phanxicô đã phân tích những khuynh hướng tự quy chiếu vào chính mình này ở phía bên kia những bức tường Giáo hội, và thường xuyên theo đuổi lối suy nghĩ về sự loại trừ (exclusion) trong thế giới ngày nay và những hệ thống mang tính thống trị của nó. Ngài nói về một “đám mây đen trong một thế giới khép kín” mà đặc nét của nó là tính ích kỉ và sử dửng dưng; về một lối suy nghĩ tiêu thụ cổ vũ cho một “nền văn hóa lãng phí”; về một thế giới xây dựng những bức tường mà không phải là những cây cầu, một thế giới thực tế làm phát sinh ra toàn những nỗi sợ hãi và cô đơn, tội ác và nô lệ, phân biệt chủng tộc và nghèo đói, và nhiều thứ bệnh trong xã hội. Lối giải thoát được đề nghị là phải đem lại một “thế giới mở”. Đức Phanxicô kêu gọi các tín hữu và những người thiện chí đi ra khỏi chính mình để đến với “thế giới của những người khác” trong tinh thần liên đới và huynh đệ. Giống như người Samari nhân hậu (FT 56-86), người có “một quả tim mở ra với thế giới” (FT 128).

2. Những đường nét trong việc canh tân Tin Mừng

Nếu lối thoát của thế giới bị khép kín là sự liên đới, nếu việc hướng ra khỏi sự tự loại trừ để đến với niềm vui Tin Mừng là truyền giáo, thì những nét chính yếu trong sự chọn lựa truyền giáo của Giáo Hoàng Phanxicô là gì? Chương 3 và 4 trong tông huấn Niềm Vui Tin Mừng có hai chủ đề chính là trung tâm cho đoàn sủng Vinh Sơn: a) truyền giáo – rao giảng Tin Mừng (EG 110-175); b) bác ái – chiều kích xã hội của loan báo Tin Mừng (EG 176-258). Phần của tôi là tóm tắt tông huấn này thành 10 câu đơn giản được rút ra từ hai chương này.

2.1 Truyền Giáo: rao giảng Tin Mừng

a. Ân sủng giả định văn hoá. Xây dựng trên châm ngôn của thánh Tôma Aquinô “ân sủng bao hàm tự nhiên” (EG, 115) và mối liên hệ chặt chẽ giữa tự nhiên và văn hóa. Giáo Hoàng Phanxicô nhấn mạnh đến những con đường khác nhau cùng với các dân tộc khác nhau đã có kinh nghiệm về mặc khải của Thiên Chúa. Kitô giáo không phải là đơn văn hóa nhưng là siêu văn hóa. Canh tân Tin Mừng tiền giả định rằng: “mọi người truyền giáo hoạt động hoà hợp với các Kitô hữu bản xứ để bảo đảm rằng đức tin và đời sống của Hội Thánh được diễn tả bằng những hình thức hợp pháp và phù hợp với mỗi nền văn hoá” (EG, 118). Hội nhập văn hóa là tên gọi khác cho việc canh tân Tin Mừng.

b. Chúng ta là những môn đệ truyền giáo. “Tất cả những ai đã được rửa tội, dù ở vị trí nào trong Giáo Hội hay ở mức độ đào luyện nào về đức tin, cũng đều là những nhà truyền giáo” (EG, 120). Canh tân Tin Mừng không chỉ là sứ vụ của các chuyên viên đã được đào tạo, nhưng là của tất cả mọi thành phần dân Chúa. Không có sự phân biệt giữa “môn đệ” và “nhà truyền giáo”, hay giữa “ecclesia discens” và “ecclesia docens” mà được thần học truyền thống diễn tả. Được ban cho cảm thức đức tin, tất cả các tín hữu có một trực giác hướng đến sự khôn ngoan “là sự thật của Thiên Chúa”, ngay cả họ không có một thứ ngôn ngữ tinh vi để diễn tả nó. Đức Giáo Hoàng Phanxicô làm cho sứ vụ loan báo Tin Mừng trở thành quyền lợi và trách nhiệm không chỉ của một nhóm người ưu tú mà là của tất cả mọi người. Tất cả chúng ta là những nhà truyền giáo – cùng lúc trong việc học và giảng dạy, trong việc trưởng thành và việc chia sẻ đức tin.

c. Đạo đức bình dân là một tinh thần được nhập thể trong nền văn hóa của những người bé mọn. Người nghèo là những môn đệ truyền giáo nhờ vào thực tại thần bí riêng và niềm tin đơn sơ của họ. “Chỉ với bản tính đồng cảm phát sinh từ tình yêu”, Đức Giáo Hoàng viết: “chúng ta mới có thể đánh giá cao đời sống hướng thần (theological) hiện tại trong lòng đạo của các dân tộc Kitô giáo, đặc biệt giữa những người nghèo” (EG, 125). Không có gì cụ thể hơn bằng tiềm năng loan báo Tin Mừng trong việc thực hành đức tin hằng ngày và kinh nghiệm tôn giáo của người nghèo: một bà mẹ sẽ bám chặt vào tràng hạt khi bà ta chăm sóc cho đứa con bị bệnh của bà; một cây nến được thắp sáng trong thinh lặng như là một lời cầu nguyện của ai đó để nhờ mẹ Maria giúp đỡ; một cái nhìn yêu thương dịu dàng lên Chúa Giêsu đang đau khổ trên thánh giá. Những điều đó không chi đơn thuần diễn tả sự lệ thuộc của con người vào hữu thể thần linh; mà chúng còn là những cảm thức đích thật và sự biểu lộ của Chúa Thánh Thần trong tâm hồn chúng ta.

d. Bài giảng giống như những lời của người mẹ nói với con mình. Con đường ưu tiên dẫn đến việc canh tân Tin Mừng là đối thoại. Đó là một bằng chứng riêng dành cho tình yêu Thiên Chúa mà được kinh nghiệm cách cá nhân và nói cách tự phát với những người khác về tình yêu Thiên Chúa, thậm chí trong những hoàn cảnh không mong đợi – “trên đường phố, trong công viên thành phố, khi làm việc, lúc đi đường” (EG,127). Nhưng bài giảng, đặc ân của sự gặp gỡ giữa người tín hữu với sứ điệp của Chúa trong bản văn, cũng còn là một bằng chứng cá nhân trong sự gặp gỡ an ủi của linh mục với Lời Chúa. “Nó nhắc nhớ chúng ta rằng, Hội Thánh là một người mẹ, và Hội Thánh giảng giống như cách một người mẹ nói chuyện với con” (EG, 139). Để có hiệu quả, người linh mục phải nói bằng trái tim với những lời mà có thể đốt cháy tâm hồn người ta.

e. Lời loan báo tiên khởi là Tin Mừng: Chúa Kitô yêu bạn: Kerygma, lời loan báo đầu tiên trong sứ điệp Kitô giáo, phải bắt đầu bằng sứ điệp nghe vui mừng này là: “Đức Giêsu Kitô yêu bạn; Ngài hiến mạng sống mình để cứu bạn; và bây giờ Ngài đang sống bên cạnh bạn mỗi ngày để soi sáng, ban sức mạnh và giải thoát bạn” (EG, 164). Bí tích khai tâm và giáo lý theo sau lời loan báo tiên khởi dẫn dắt người ta đến với một kinh nghiệm huấn luyện thăng tiến trong đức tin và “một sự đánh giá mới về các dấu hiệu phụng vụ của việc khai tâm Kitô giáo” (EG, 166).

2.2 Bác ái: Chiều kích xã hội của loan báo Tin Mừng

a. Lời rao giảng tiên khởi có một nội dung xã hội rõ ràng: Tin Mừng không chỉ là một tin tốt lành; mà tin mừng còn chứa đựng nội dung xã hội mạnh mẽ. Hàm ý luân lý được tập trung vào bác ái của Tin Mừng (EG, 177) không chỉ đơn thuần đề cập tới những hoạt động cá nhân tốt lành trong lúc thiếu thốn. Đó không phải là hình thức “bác ái bằng một dĩa thức ăn” để làm vơi đi sự đói khổ của ai đó. Nước Trời mà Chúa Giêsu rao giảng mang đến một sự giải thoát thật sự “cho toàn vẹn con người và cho tất cả mọi người” (Populorum Progressio, 14) điều mà trực tiếp mang chúng ta tới trung tâm của Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội. “Mọi Kitô hữu, bao gồm cả các mục tử của họ, được kêu gọi bày tỏ quan tâm đối với việc xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn” (EG 183). Làm việc vì nền công lý và tham gia vào việc biến đổi thế giới hình thành nên một chiều kích cơ bản trong việc loan báo Tin Mừng.

b. Quả tim của Thiên Chúa dành một chỗ đặc biệt cho người nghèo. Chúa Giêsu là một con người nghèo. Ngài thuộc về một gia đình nghèo, đã sống và làm việc giữa những người nghèo, và đã chết như một người nghèo. Chọn lựa vì người nghèo là chọn lựa của Chúa Giêsu. “Đây là lý do tại sao tôi muốn một Hội Thánh nghèo và cho người nghèo. Họ có nhiều điều để dạy chúng ta. Không những họ tham dự vào cảm thức đức tin (sensus fidei), nhưng giữa những khó khăn họ biết Đức Kitô chịu đau khổ. Chúng ta cần phải để mình được Phúc Âm hoá bởi họ” (EG 198). Canh tân Tin Mừng phải đặt người nghèo ở trung tâm trong sứ vụ của Giáo Hội.

c. Bất công là nguồn gốc của mọi loại bệnh tật trong xã hội. Các nguyên nhân cấu trúc của nghèo đói thường cách ly và loại trừ người nghèo. Nếu không tấn công các nguyên nhân bất bình đẳng trong cấu trúc này, ví dụ, sự tự trị tuyệt đối của thị trường và đầu cơ tài chính, thì tất cả các giải pháp của chúng ta chỉ chạm vào bề nổi. “Chúng ta không còn có thể tin vào những lực lượng giấu mặt và bàn tay vô hình của thị trường… Tôi cầu xin Thiên Chúa ban cho chúng ta nhiều chính trị gia có khả năng đối thoại chân thành và hiệu quả nhằm chữa lành những cội rễ sâu nhất – chứ không chỉ những hiện tượng – của những sự dữ trong thế giới chúng ta” (EG, 204-205). Việc canh tân Tin Mừng cần phải giải quyết sự bất bình đẳng này, nếu không nó hoàn toàn không phải là Tin mừng.

d. Hòa bình là kết quả của sự phát triển toàn vẹn. Hòa bình không phải là sự vắng bóng của bạo lực trong chiến tranh, không phải là một chương trình hòa ước để bịt miệng những người thiểu số hoặc những tiếng kêu gọi nhân quyền hoặc phân phối của cải một cách bình đẳng. Một nền hoà bình “mà không phải là kết quả của sự phát triển toàn diện thì sẽ đi đến thất bại; nó sẽ luôn luôn sinh ra những xung đột mới và những hình thức bạo lực mới” (EG, 219). Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã nói: “Hòa bình phải được thiết lập trên sự thật, xây dựng theo sự công bằng, được làm cho sống động và được hợp nhất bởi bác ái, và được thực hiện trong sự tự do” (Pacem in Terris, 167).

e. Loan báo Tin Mừng cần đến con đường đối thoại. Ba mức độ đối thoại được hình dung trong việc canh tân Tin Mừng: đối thoại với các quốc gia, đối thoại với xã hội (văn hóa, khoa học…), và đối thoại với những niềm tin khác. Kể từ khi hình thức canh tân Tin Mừng này chịu trách nhiệm cho sự thúc đẩy những thiện ích chung, Giáo hội cần đối thoại và xây dựng sự đồng lòng cho hình thái này trong tinh thần bổ trợ và đoàn kết.

2.3 Sự chọn lựa truyền giáo: tôi là một nhà truyền trên trái đất này

Truyền giáo, là căn tính sâu xa nhất của chúng ta; cái làm cho chúng ta biết mình là ai. Khởi đầu tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, Đức Giáo Hoàng Phanxicô diễn tả ước muốn của mình như sau: Tôi ước mơ một “chọn lựa truyền giáo”, nghĩa là một nỗ lực truyền giáo có khả năng biến đổi mọi sự” (EG 27). Ngài kết thúc tông huấn với cùng một niềm xác tín: “Sứ mệnh của tôi giữa lòng dân không chỉ là một phần của đời tôi hay một cái phù hiệu mà tôi có thể gỡ bỏ; nó không phải một cái gì ‘phụ thêm’ hay chỉ là một khoảnh khắc khác trong cuộc đời. Trái lại, nó là một cái gì tôi không thể dứt bỏ khỏi mình nếu không muốn tiêu diệt chính mình.Tôi là một sứ mệnh trên trái đất này; đó là lý do tại sao tôi có mặt trên trái đất này” (EG 273). Chỉ ở trong việc truyền giáo, Giáo hội và các thợ gặt của Giáo hội được giải thoát khỏi vỏ bọc của mình và chỉ chú ý tới mình để hướng tới việc trở thành những người loan báo Tin Mừng trong lĩnh vực linh hồn và đi trong sự “nhiệt huyết, vui tươi, quảng đại, can đảm, yêu thương vô bờ và hấp dẫn” (EG 261).

Đức Giáo Hoàng Phanxicô xác định hai nguồn gốc của niềm vui và sự đam mê: sự gặp gỡ cá vị với Chúa Giêsu (EG 264) và sự gặp gỡ cá vị với cái nghèo và sự đau khổ (EG 268). Trước tiên, tông huấn mở đầu và kết thúc bằng việc kể lại những niềm vui của dân Chúa mà đã có kinh nghiệm mật thiết với sự hiện diện của Chúa trong các bản văn Kinh Thánh (EG 3-13). “Lúc đó vào khoảng 4 giờ chiều” (Ga 1,39). Tông đồ Gioan nhớ chính xác giờ ông đã gặp Chúa Giêsu. “Một người truyền giáo đích thực, người không bao giờ thôi là một môn đệ, biết rằng có Đức Kitô cùng đi với mình, nói với mình, thở với mình, làm việc với mình… Nếu không nhìn thấy Ngài hiện diện tại tâm điểm sự dấn thân truyền giáo của chúng ta, lòng phấn khởi của chúng ta sẽ sớm nhạt nhoà và chúng ta không còn chắc chắn mình đang thông truyền điều gì; chúng ta thiếu sinh lực và đam mê.” (EG 266). Thứ hai, canh tân Tin Mừng không chỉ là “một niềm đam mê Chúa Giêsu, nhưng nó còn là một niềm đam mê dành cho dân của Ngài” (EG 268). Chúa Giêsu muốn chúng ta đắm mình trong sự khốn cùng và đau khổ của dân tộc mình, “không phải đứng xa để nhìn các vết thương suốt cánh tay của Chúa” mà hãy thực sự “chạm vào da thịt đau khổ của người khác”. Chỉ khi đó, chúng ta mới biết được chiều sâu của niềm vui truyền giáo. Canh tân Tin Mừng không chỉ là về những cách thức mới để “truyền tải đức tin Kitô giáo” theo tinh thần của Giáo lý Hội Thánh Công giáo mà còn là công cụ như Thượng Hội đồng Giám mục 2012 về Truyền giáo đã bày tỏ điều đó.[4] Đọc lướt qua tài liệu mục vụ này không mang lại bất kỳ chương trình nghị sự xã hội nào. Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng vừa là sản phẩm của các đề xuất của Thượng Hội Đồng vừa là chương trình nghị sự của chính Đức Thánh Cha Phanxicô.[5] Trong ý nghĩ của ngài, Canh tân Tin Mừng không chỉ nói về những chiến lược trong việc loan báo đức tin trong thời hiện đại bằng “sự hăng say mới, bằng những phương pháp mới, bằng những biểu hiện mới”, như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II công bố trong phần mở đầu của tông huấn Puebla.[6] Đức Thánh Cha Phanxicô cho rằng nó bao gồm những điều này và hơn thế nữa. Việc canh tân Tin Mừng nhằm mục đích trên hết là công bố thông điệp mang tính xã hội của Tin Mừng, đề cao vai trò trung tâm của người nghèo, đấu tranh chống lại bất bình đẳng xã hội và kinh tế, theo đuổi hòa bình, phát triển bằng đời sống đối thoại, v.v. niềm vui Tin Mừng không chỉ dành cho một ít người nhưng cho tất cả mọi người: “không ai bị loại trừ” (EG,23).

Thế nhưng, chương trình nghị sự của Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã được thánh Vinh Sơn bàn đến cách đây 4 thế kỉ rồi. “Nếu có ai đó trong chúng ta nghĩ rằng họ ở trong Tu Hội Truyền Giáo chỉ để loan báo Tin Mừng cho người nghèo chứ không phải để chăm sóc họ, để chữa trị nhu cầu tâm linh chứ không phải nhu cầu vật chất của họ, tôi sẽ nói với họ rằng, chúng ta phải giúp họ và nhờ những người khác giúp họ bằng mọi cách – bởi chính chúng ta và bởi những người khác… Làm như thế là loan báo Tin Mừng bằng lời nói và việc làm.”[7]

3. Thánh Vinh Sơn và niềm vui loan báo Tin Mừng

Niềm vui và sự vui mừng không phải là những điểm mạnh trong nhân cách của thánh Vinh Sơn. Người ta hiếm khi thấy chân dung đang mỉm cười của Đấng sáng lập. Cha Abelly, sử gia đầu tiên viết về thánh Vinh Sơn nói rằng, tính cách của cha Vinh Sơn là “tử tế và tốt bụng, tính khí của ngài là tham vọng và dễ cáu”[8]. Ngài có khuynh hướng hay nổi giận và rầu rĩ. Cha Vinh Sơn nói: “tôi đã tự mình nói với Chúa cách nghiêm túc là xin Ngài ban cho tôi được biến đổi tính cộc cằn và tính khí cáu bẩn của tôi để trở nên một con người dịu hiền và nhân từ. Nhờ vào ân sủng và sự cố gắng của mình để hãm dẹp được những cơn giận của dục vọng, tôi đã có thể dẹp bỏ cái tính khí tiêu cực của mình”.[9]

Vượt qua cái tính khí tự nhiên của mình, thánh Vinh Sơn đã có những kinh nghiệm mang tính cá nhân liên tiếp, và điều đó cũng mang lại những hậu quả không may mắn và bất hạnh – từ việc theo đuổi một của hồi môn (không thành công) đến việc muốn dành được một món lợi (mà không đạt được), từ những vụ việc đau lòng khi bị giam cầm ở Tunis đến bị cáo buộc trộm cắp ở Paris. Trong mọi biến cố đó, chàng trai Vinh Sơn vẫn không dừng việc tìm kiếm sự thăng tiến của bản thân với mong muốn được nghỉ hưu thoải mái (ở tuổi ba mươi) với mẹ mình, và cả những lợi ích vật chất từ chức linh mục, thậm chí khao khát được làm giám mục, điều mà cha có thể đã cảm thấy xấu hổ khi đề cập đến một lần nữa trong cuộc đời của ngài. Những thất bại và thất bại liên tiếp không làm cha nản lòng. Cha tin, như bức thư đầu tiên của cha có viết, rằng “sự bất hạnh hiện tại báo trước thành công trong tương lai”[10]. Có quá nhiều sự lạc quan điên cuồng và tìm kiếm bản thân và thiếu vắng niềm vui đích thực. Cha Vinh Sơn đang làm việc cho Chúa nhưng không làm việc của Chúa. Trong hạn từ được Đức Giáo Hoàng Phanxicô sử dụng, đó là sự cám dỗ của “tính thế tục thiêng liêng”, đó là: “Núp dưới dáng vẻ của lòng đạo đức và thậm chí lòng yêu mến đối với Hội Thánh, tính thế tục thiêng liêng không tìm kiếm vinh quang Thiên Chúa mà là tìm vinh quang loài người và sự thoả mãn của bản thân” (EG 93 – 97).

“Sự cám dỗ chống lại đức tin” của cha Vinh Sơn là có thật. “Linh hồn của cha chìm vào bóng tối… cha cảm thấy tất cả niềm tin thời thơ ấu và sự chắc chắn vỡ vụn xung quanh mình”: Đây là cách nhà sử học người Roma mô tả thử thách mà cha Vinh Sơn đã phải trải qua nhiều đau đớn trong ba đến bốn năm.[11] Giữa lúc ‘suy sụp’ này, ngài đến thăm những người bệnh ở một bệnh viện gần đó. Ở đó, ngài nhìn thấy nỗi đau khổ thực sự của những người nghèo – một nơi đông đúc đến mức hàng chục người bệnh tranh giành nhau một chiếc giường trống của một người vừa qua đời. Đây là chuyện xảy ra hàng ngày trong một cơ sở quá nghèo nàn.

Bệnh nhân quá nghèo đến nỗi không được ai chăm sóc. Họ nằm đó chỉ chờ chết. Sự thỏa mãn trong việc tìm kiếm cá nhân của cha Vinh Sơn đã được đối chiếu nhờ vào hoàn cảnh của những người đang sống như những con vật trong hỏa ngục. Thật bất ngờ đối với một người có tham vọng là được sống trong sự sung sướng! Đó là một nhận thức đầy đau đớn. Người nghèo đã mặc khải sự thật cho cha Vinh Sơn về chính ngài. Ngài đã đối chiếu cuộc sống ích kỉ của mình với sự đau khổ và sự thiếu thốn của người nghèo. Cha Abelly đã viết: “Chẳng bao lâu sau khi ngài đối chiếu bản thân của ngài với những người nghèo, nhờ vào sự tác động kì diệu của ân sủng, thì tất cả những kế hoạch của con người tội lỗi đã biến mất. Tâm hồn bối rối trong một thời gian dài của ngài ngay lập tức được cởi bỏ.”[12] Nhưng chúng ta biết là điều đó không xảy ra tức thì. Cha Vinh Sơn đã không ngã ngựa và được biến đổi tức thì như thánh Phaolô. Thế nhưng, cha Vinh Sơn biết rằng có một điều gì đó đang xảy ra bên trong con người của ngài. Một vài tháng sau đó, tâm hồn của cha từ từ thay đổi khi cha gặp những hoàn cảnh khiến cho sự tự thỏa mãn cá nhân của ngài lại trở thành câu hỏi.

Cha không còn cảm thấy hạnh phúc khi sống ẩn dật trong lâu đài nữa. Cha quyết tâm rằng, cuộc đời của cha phải cống hiến hết mình cho những người đang đau khổ này. Ngài dần dần xa lánh những hành lang quyền lực và dừng lại việc tìm kiếm, và dần chuyển qua những người nông dân bị bỏ rơi ở miền quê, những người ăn xin trên đường phố, những tù nhân ở trên các chiến thuyền, và nhiều người khác. Đời sống của ngài đã thay đổi hoàn toàn và hướng đến những nạn nhân của xã hội. Cùng với sự hoán cải này là một nhận thức sâu sắc: rằng người nghèo là nguồn cội cần được giải phóng của ngài. Đề phòng những phức tạp mang tính thiên sai mà gây phiền hà cho nhiều nhà từ thiện, những người tổ chức cộng đồng và những người mục vụ trong thời đại chúng ta, cha Vinh Sơn nhận ra rằng không phải ngài đang cứu người nghèo. Trên thực tế, chính người nghèo đã cứu vớt ngài.

Và lần đầu tiên, chúng ta đọc được từ cha một ghi chú hào hứng và vui vẻ khi ở Clichy lúc cha là một cha sở ở giữa những người nghèo lần đầu tiên trong mười hai năm sống đời linh mục của của cha (1612). “Điều này mang đến cho tôi một sự an ủi và làm cho tôi hạnh phúc đến nỗi tôi đã từng nói với chính mình – Lạy Chúa của con! Thật hạnh phúc biết bao khi có những người giáo dân tốt lành như thế! Con nghĩ là chính Đức Giáo Hoàng cũng không hạnh phúc bằng một cha xứ với những người giáo dân có những tâm hồn tốt lành như thế”[13]

Sự biến đổi mà cha Vinh Sơn đã trải qua cũng giống như sự biến đổi mà Đức Thánh Cha Phanxicô mơ ước về Giáo hội trong thời đại chúng ta. Nếu không có sự biến đổi này, chúng ta sẽ sa lầy vào mạng lưới của những đam mê. Cùng với sự biến đổi, chúng ta gặp gỡ niềm vui Phúc Âm. “Tôi thà có một Hội Thánh bị bầm dập, mang thương tích và nhơ nhuốc vì đi ra ngoài đường, hơn là một Hội Thánh ốm yếu vì bị giam hãm và bám víu vào sự an toàn của mình. Tôi không muốn một Hội Thánh chỉ lo đặt mình vào trung tâm để rốt cuộc bị mắc kẹt trong một mạng lưới các nỗi ám ảnh và các thủ tục. Nếu có cái gì đáng phải khiến chúng ta trăn trở và áy náy lương tâm, thì đó chính là sự kiện nhiều anh chị em chúng ta đang sống mà không có sức mạnh, ánh sáng và niềm an ủi phát sinh từ tình bạn với Đức Giêsu Kitô, không có một cộng đoàn đức tin nâng đỡ họ, không tìm thấy ý nghĩa và mục tiêu trong đời. Tôi mong rằng, thay vì sợ đi lạc, chúng ta nên sợ bị giam hãm trong những cấu trúc làm cho chúng ta có một cảm giác an toàn giả tạo, những qui tắc biến chúng ta thành những quan toà tàn nhẫn, với những thói quen làm chúng ta cảm thấy an thân, trong khi ở ngoài cửa người ta đang chết đói và Đức Giêsu không ngừng nói với chúng ta: “Anh em hãy cho họ ăn đi!” (Mc 6:37) (EG 49).

Daniel Franklin E. Pilario, C.M.

St. Vincent School of Theology

Adamson University – Manila, Philippines

danielfranklinpilario@yahoo.com

Nguyễn Đức Chỉnh chuyển dịch.

 

[1] Pope Francis, “Chrism Mass Homily,”

[2] Andrea Tornielli, “Careerism and Vanity: Sins of the Church,”

https://www.catholiceducation.org/en/culture/catholic-contributions/careerism-and-vanity-sins-of-thechurch.html

[3] Cf. https://www.catholicworldreport.com/2013/03/28/pope-francis-andhenri-de-lubac-sj/

[4] Cf. http://www.vatican.va/roman_curia/synod/documents/rc_synod_doc_20120619_instrumentumxiii_en.pdf.

[5] (EG 16).

[6] John Paul II, Discourse to the XIX Assembly of C.E.L.AM. (Port au Prince, 9 March 1983), 3: AAS 75 (1983)

778; L’Osservatore Romano, English Edition (18 April 1983), No. 9

[7] Conferences to the CM, “On the End of the Congregation of the Mission, December 6, 1658, 608. Cf. Jose

Ma. Roman, “The Spirituality of Vincent de Paul,” Of Roots and Wings: Reflections on Rediscovering and

Reliving a Religious Charism Today, ed. Julma Neo (Paranaque: Daughters of Charity, 2003), 100-117.

[8] Louis Abelly, The Life of the Venerable Servant of God Vincent de Paul, Vol. I, trans. William Quinn,

(New York: New City Press, 1993), 100.

[9] Louis Abelly, The Life of the Venerable Servant of God Vincent de Paul, Vol. III, 163.

[10] José Maria Roman, St. Vincent de Paul: A Biography (London: Melisende, 1999), 89.

[11] Ibid, 100.

[12] Abelly, The Life of the Venerable Servant of God Vincent de Paul, Vol. I, 115-116.

[13] Pierre Coste, The Life and Works of St. Vincent de Paul, Vol I (New York: New City, 1987), 57.