SỐNG THEO CÁC GIÁ TRỊ HIỆP HÀNH TRONG THỜI ĐẠI CHÚNG TA – [Loạt bài về Đời sống Vinh Sơn – Tuần 26]

Đăng ngày: 16 giờ trước
Danh mục: LINH ĐẠO

Thánh Vinh Sơn đã sống cách đây hơn 400 năm, nhưng thật đáng kinh ngạc, những giá trị mà ngài mong muốn chúng ta thực hành cũng chính là những giá trị cần thiết cho thời đại ngày nay. Nếu những linh kiến ​​của ngài hướng về một Giáo hội của sự hiệp thông và lòng trắc ẩn, thì ngài cũng đề xuất những giá trị đi kèm mà chúng ta cần trân trọng. 

Tinh thần Hiệp hành không chỉ là một thuật ngữ thần học mới mẻ; nó cần được thể hiện trong đời sống thường ngày của chúng ta. Làm thế nào để thực hiện điều đó? Thánh Vinh Sơn đã gợi ý một số phương cách thực tiễn.  

Trong Luật Chung của Tu Hội Truyền Giáo, ngài viết: “Thái độ bác ái đối với tha nhân phải là nét đặc trưng của chúng ta. Vì vậy, chúng ta hãy cố gắng: (1) đối xử với người khác theo cách mà ta mong muốn họ đối xử với mình một cách hợp lý; (2) hòa hợp với người khác và đón nhận mọi sự trong Chúa; (3) kiên nhẫn chịu đựng lẫn nhau mà không cằn nhằn; (4) khóc với người đang khóc; (5) vui với người đang vui; (6) nhường bước cho người khác; (7) tử tế và hay giúp đỡ người khác với tất cả sự chân thành; (8) và cuối cùng, trở nên ‘mọi sự cho mọi người’ để có thể chinh phục tất cả cho Đức Kitô” (Luật Chung, II.12).

Vào ngày 30 tháng 5 năm 1659 – tức là chỉ hơn một năm trước khi qua đời – ngài đã giải thích quy tắc này trong một buổi chia sẻ dành cho các nhà truyền giáo. Dù ngôn ngữ của Thánh Vinh Sơn có phần cổ xưa, chúng ta vẫn có thể diễn giải những điều này qua lăng kính đương đại, bằng ngôn ngữ phù hợp với thời đại ngày nay. 

Thánh Vinh Sơn đã đề cập đến bảy hoặc tám nhân đức thực tiễn. Trong bài viết này, tôi xin giải thích ba nhân đức: (1) hướng về người khác; (2) giải quyết xung đột; (3) ý thức chung về sự mong manh, dễ bị tổn thương.

  1. Hướng về người khác

Nếu yêu thương là làm điều tốt cho người khác, thì chúng ta cần đối xử tốt với họ như cách ta mong muốn họ đối xử với mình. Đây chính là tinh thần nhân văn và cũng là nguyên tắc Kinh Thánh được gọi là “Quy tắc Vàng”. Điều này không đơn thuần là sự trao đổi có tính toán kiểu “có qua có lại” hay “anh gãi lưng cho tôi thì tôi gãi lưng lại cho anh”.

Thánh Vinh Sơn nói về việc “yêu thương từ bên trong” – từ trái tim, từ cốt lõi và chiều sâu tâm hồn, nơi khởi nguồn cho mọi hành động của chúng ta. Ngài nói: “Miệng nói ra những gì tràn đầy trong tim. Và theo lẽ thường, hành động bên ngoài sẽ bộc lộ những gì ẩn chứa bên trong. Những ai thực sự có lòng bác ái nội tâm sẽ tỏa ra điều đó. Ngọn lửa vừa soi sáng vừa sưởi ấm; tình yêu cũng vậy, nó soi sáng và khơi dậy lòng tôn trọng cũng như sự tử tế dành cho người được yêu thương.”

  1. Giải quyết xung đột

Việc “chỉ biết đồng tình và chấp nhận mọi thứ” trông có vẻ là một thái độ sống thụ động và thiếu quyết đoán. Khi đối mặt với xung đột, đây là một lập trường không bền vững. Có ba cách phản ứng khả dĩ trước xung đột: né tránh (bỏ chạy), đối đầu (chiến đấu) hoặc trực diện đối mặt.

Cách lý tưởng nhất là phương án thứ ba. Tuy nhiên, ngay cả các nhà tâm lý học hiện đại cũng thừa nhận rằng, trong thực tế, có những tình huống đòi hỏi phản ứng “né tránh” tạm thời – chẳng hạn khi đối phương là người quá mạnh mẽ và chưa sẵn sàng cho một cuộc đối thoại cởi mở hay sự tranh luận thẳng thắn. Đây là biểu hiện của sự tôn trọng đối với quyền tự do và quá trình trưởng thành của người kia. Đó không phải là sự trốn tránh hay hèn nhát, mà chính là biểu hiện của sức mạnh thực sự.

Suy cho cùng, việc quản lý xung đột không chỉ đơn thuần là trình bày quan điểm của mình để được người khác thấu hiểu. Nó chủ yếu đề cập đến khả năng đối thoại để chúng ta có thể cùng nhau làm việc bất chấp những bất đồng. Thánh Vinh Sơn từng nói: “Tôi không thể chinh phục được người anh em của mình bằng cách chống lại hay tranh cãi với họ…”

Giữa tình huống xung đột, cần phải tìm kiếm sự kết nối thông qua việc lắng nghe một cách sâu sắc, bởi lẽ: “Có thể họ đúng còn tôi sai; họ muốn tham gia một cuộc trò chuyện thân tình trong khi tôi lại biến nó thành cuộc tranh cãi; và biết đâu điều họ nói lại là điều tôi nên chấp nhận nếu thực sự hiểu đúng ý họ.”

Cuối cùng, Thánh Vinh Sơn đã đưa ra hai cách ứng xử trước xung đột: Nếu có quan điểm trái ngược với ý kiến ​​được đưa ra, thì hoặc là (1) chúng ta giữ im lặng, hoặc là (2) chúng ta chỉ đơn giản trình bày cách nhìn nhận của mình về vấn đề mà không chỉ trích hay bắt bẻ cách hiểu của người khác.

Việc thể hiện sự quyết đoán chỉ vì mục đích khẳng định bản thân đơn thuần lại chính là sự hung hăng—một phản ứng “chiến đấu” đầy bạo lực trước xung đột. Đó là “sự chống đối, một tai ương tàn phá, một con quỷ hủy hoại những cộng đoàn thánh thiện nhất”; thái độ ấy không có chỗ đứng trong trái tim hiền hòa của Thánh Vinh Sơn và cũng không nên hiện diện trong trái tim chúng ta.

  1. Ý thức về sự mỏng dòn

“Hành động bác ái thứ ba chính là sự kiên nhẫn chịu đựng những yếu đuối của người khác”. Điều này bắt nguồn từ thực tế là các thành viên trong cộng đoàn đều chia sẻ chung những yếu đuối và khiếm khuyết. Càng chấp nhận sự mỏng dòn chung này nơi chính mình, chúng ta càng trở nên thấu hiểu người khác hơn.

Vượt xa khỏi khái niệm về những tổn thương, các triết gia như Levinas và Butler coi sự mỏng dòn là một trạng thái hiện hữu của con người; trạng thái này cho phép tôi lắng nghe, gặp gỡ, đón nhận hoặc nhận ra người khác, ngay cả khi điều đó có thể khiến chính tôi bị tổn thương hay đau đớn. Như vậy, sự mỏng dòn chính là sự cởi mở để yêu thương người khác đến mức sẵn sàng chấp nhận tổn thương. Đây chính là thái độ mà người Samari nhân hậu đã thể hiện khi gặp người đàn nạn nằm bên vệ đường. Khi giúp đỡ người bị thương, ông đã chấp nhận rủi ro có thể bị tổn thương chính mình. Sự mỏng dòn là thái độ căn bản về mặt nhân bản và đạo đức của chúng ta trước một thế giới đầy rẫy những tổn thương.

Cách đây 4 thế kỷ, Thánh Vinh Sơn cũng đã diễn tả cùng một thông điệp này: “Nếu một người chịu khó quan sát kỹ bản thân, họ sẽ nhận thấy vô số những yếu đuối và thiếu sót; họ thậm chí sẽ nhận ra rằng mình không thể tránh khỏi những điều đó, và do vậy, họ cần đến sự bao dung của người khác”.

Tôi bắt đầu nhận ra rằng chúng ta không phải là những con người mạnh mẽ đi chinh phục thế giới cho Đấng Kitô bằng sức mạnh trong tay mình. Thực ra, chúng ta là những “sinh linh yếu đuối” gặp gỡ những người cũng đang mang thương tích và tìm đến nhau để được chữa lành, ngõ hầu người khác cũng có thể tìm thấy sự chữa lành ngay trong chính những vết thương của chúng ta. Chính sự “yếu đuối” nơi mỗi người lại gắn kết chúng ta trong sức mạnh.

Chính sự mong manh, dễ bị tổn thương nơi mỗi người thôi thúc chúng ta biết nhạy bén vươn tới người khác. Sự mong manh ấy đòi hỏi ta phải phá bỏ những bức tường thành tự vệ mà mình đã dựng lên xung quanh bản thân. Nó có nghĩa là để người khác chạm vào những đổ vỡ của mình, đồng thời ta cũng vươn tới sự yếu đuối nơi họ bằng sự thấu hiểu.

Thánh Vinh Sơn từng nói: “Ai thấu hiểu được sự khốn cùng của chính mình thì đã đạt đến giai đoạn… nhận ra bổn phận phải kiên nhẫn chịu đựng và cảm thông với người khác… nhờ đó, ngay giữa sự yếu đuối của bản thân, họ vẫn có thể bao dung với tha nhân bằng lòng bác ái.”

Như tài liệu Vademecum đã nêu: Thượng Hội đồng Giám mục về Hiệp hành đã khẳng định, nhằm mục đích “khơi dậy nơi mọi người ước mơ về một Giáo hội mà chúng ta được mời gọi trở thành, làm nảy nở những niềm hy vọng, vun đắp lòng tin, chữa lành các vết thương, dệt nên những mối tương quan mới mẻ và sâu sắc hơn, học hỏi lẫn nhau, xây những nhịp cầu nối kết, soi sáng tâm trí, sưởi ấm con tim và tiếp thêm sức mạnh cho đôi tay để cùng thực hiện sứ mạng chung.”

Đức Giáo hoàng Phanxicô từng nói: “Một khi trút bỏ những chiếc áo choàng, những đặc quyền, địa vị và tước hiệu, tất cả chúng ta đều là những người phong cùi, tất cả đều cần được chữa lành.” Và chỉ khi đứng ở vị thế của một con người mong manh giữa một nhân loại đầy thương tích, thì tinh thần hiệp hành, ý thức thuộc về nhau và sứ mạng mới có thể nảy sinh.

Cha Daniel Franklin E. Pilario, CM

Nguồn: adamson.edu.ph/

Ban Truyền thông chuyển ngữ.