Tính Hiệp Hành Trong Đoàn Sủng Vinh Sơn

Đăng ngày: 08/04/2026

(Phần IIa: Khía cạnh hiệp hành trong ba tổ chức Vinh Sơn đầu tiên- Hiệp Hội Bác Ái (AIC))

Sơ Mª Isabel Vergara Arnedillo, D.C.

Cả Thánh Vinh Sơn và Thánh Louise đều chưa bao giờ sử dụng từ “hiệp hành”, mặc dù các ngài đã sống, gần như là đi trước, về nhiều trực giác về Giáo hội như một sự hiệp thông mà trong thế kỷ XX, bắt đầu từ Công đồng Vatican II, đã trở thành những điểm trọng tâm cho đời sống của Giáo hội hoàn vũ.

Các vị sáng lập của chúng ta đã sống trong thời điểm Giáo hội của Công đồng Trento, nơi thúc đẩy các công đồng giáo phận và giáo tỉnh, mà mục đích, theo văn hóa thời đó, không phải là thiết lập trách nhiệm chung tích cực của toàn thể Dân Chúa, mà là truyền đạt và thực hành các chuẩn mực và khuynh hướng theo tinh thần thể chế. Do cuộc cải cách Tin Lành chỉ trích quyền lực giáo hội, một Giáo hội có thứ bậc được nhấn mạnh như một xã hội hoàn hảo của những người bất bình đẳng, trong đó các mục tử là những người giảng dạy, trong khi phần còn lại của Dân Chúa là những người học hỏi, do đó tạo ra một khoảng cách rất lớn giữa các mục tử và dân chúng của họ.

Các vị sáng lập của chúng ta là những người sống trong thời đại của các ngài, nhưng họ biết cách để cho Chúa Thánh Thần dẫn dắt và bằng cách này, trong khuôn khổ Giáo hội, họ đã khởi xướng một cách thức mới để noi theo Chúa Giêsu Kitô, lấy người nghèo làm kim chỉ nam, cho phép họ khám phá ra những cách thức mới để hiến dâng mình cho Chúa và cách tổ chức bản thân để phục vụ và rao giảng Tin Mừng cho người nghèo và những người bị gạt ra ngoài lề xã hội.

Chúng ta sẽ xem xét ba tổ chức mà các ngài đã thành lập: các Hội Huynh Đệ Bác Ái (tiền thân AIC),Tu Hội Truyền Giáo và Tu Hội Nữ Tử Bác Ái. Chúng ta sẽ xem xét cách thức thực hiện sứ mệnh của họ và một số thực tiễn cụ thể, làm nổi bật cách họ sống những yếu tố hiệp thông, tham gia và sứ vụ này. Chúng ta sẽ xem xét các nội quy, luật lệ và tài liệu  nền tảng của các tổ chức từ góc độ Thượng Hội đồng, và cuối cùng, chúng ta sẽ làm nổi bật, từ góc độ các văn kiện gần đây hơn, cách các tổ chức này muốn mang những yếu tố này đến ngày nay.

Các Hội Huynh đệ Bác Ái

Hội Huynh Đệ Bác Ái đầu tiên được thành lập bởi Thánh Vinh Sơn Phaolô vào năm 1617 tại Chatillon. Chính hoàn cảnh khó khăn của một gia đình nghèo trong làng đã thôi thúc nhiều người dân trong làng chung tay giúp đỡ, sau khi cảm động trước bài giảng của cha xứ, cha Vinh Sơn Phaolô, trong Thánh lễ Chúa Nhật.

Thánh Vinh Sơn dường như hiểu rằng để lòng bác ái có hiệu quả, nó phải được tổ chức tốt. Đó là lý do tại sao ngài tập hợp tất cả những người phụ nữ này lại với nhau trong nhóm Bác ái “Vinh Sơn” đầu tiên, và tự nó đã cấu thành một phương thức hoạt động theo kiểu hiệp hội. Những hội đoàn này phụ thuộc vào những người phụ nữ bình thường, mặc dù vào thời điểm đó cả giáo dân nam lẫn phụ nữ đều không tham gia nhiều vào đời sống của Giáo hội. Sau Chatillon, có nhiều nơi, sau khi các nhà truyền giáo giảng đại phúc, một hội đoàn đã được thành lập để chăm sóc người bệnh và người nghèo ở địa phương.

Các quy định của những hội đoàn này đã nêu rõ cách thức mà các thành viên của hội đoàn, các bà vợ, góa phụ và phụ nữ chưa kết hôn[1] cùng với linh mục giáo xứ và thủ quỹ… cách thức mà những cá nhân này phải hoạt động và làm việc cùng nhau. Theo thời gian, cũng có những hội đoàn dành cho nam giới được thành lập và những hội đoàn khác do cả nam và nữ được thành lập, mặc dù những hội đoàn chủ yếu gồm phụ nữ luôn chiếm ưu thế.

Các Hội Huynh Đệ này có một sứ mệnh được xác định rất rõ ràng: (1) Tôn vinh tình yêu thương của Chúa dành cho những người nghèo (2) Giúp đỡ người nghèo về thể xác và tinh thần (CCD XIIIb, 1). Bằng cách này, các thành viên thực hiện sứ mệnh của Giáo hội: rao giảng Nước Thiên Chúa, trên hết là dành cho người nghèo.

Mặt khác, Thánh Vinh Sơn đã rất chú trọng đến việc làm rõ sự tham gia và trách nhiệm chung của tất cả các thành viên bằng cách thiết lập các “ban mục vụ” để đảm bảo hoạt động tốt: cha xứ, bề trên, thủ quỹ, người phụ trách đồ dùng, trợ lý… tất cả đều là các chức vụ tạm thời và được bầu chọn bằng bỏ phiếu: Họ được cha xứ bổ nhiệm lần đầu tiên, và sau đó, cứ sáu tháng một lần bằng đa số phiếu (CCD XIIIb, 1). Mỗi chức vụ đều có trách nhiệm được xác định rõ ràng: bề trên (hay chủ tịch), trong số những nhiệm vụ khác, sẽ là người tiếp nhận người nghèo vào nhóm, thủ quỹ nhận, giữ và quản lý tiền của hội, báo cáo thường xuyên với sự minh bạch hoàn toàn. Người phụ trách đồ dùng sẽ tư vấn cho bề trên và ngoài các nhiệm vụ khác, như tên gọi cho thấy, sẽ duy trì kho đồ dùng sẽ được cho người nghèo mượn sau này. Các trợ lý là những người trực tiếp phục vụ người bệnh với một hệ thống ca trực nghiêm ngặt.

Sự hiệp thông giữa các thành viên của Hội Huynh Đệ đã tồn tại và các quy định đã nêu rõ cách thức vun đắp nó: Họ sẽ yêu thương nhau như những người mà Chúa đã kết hợp và ràng buộc bởi tình yêu của Ngài; họ sẽ thăm viếng và an ủi nhau trong những lúc đau khổ và bệnh tật; sẽ cùng nhau đến dự tang lễ của các thành viên qua đời, rước lễ cầu nguyện cho họ, và tham dự Thánh lễ trọng thể cầu nguyện cho mỗi người. Họ cũng sẽ làm điều tương tự cho cha xứ và cho người quản lý của họ khi họ qua đời. Tương tự như vậy, họ sẽ cùng nhau đến dự tang lễ của những người nghèo bệnh tật mà họ đã giúp đỡ, và tham dự thánh lễ thường nhật cầu nguyện cho linh hồn họ được an nghỉ. Tuy nhiên, không điều nào trong số này bắt buộc phải làm dưới hình phạt tội trọng hoặc tội nhẹ (CCD 13b, 7).

Ngay từ đầu, các “cuộc họp” đã được thiết lập để thảo luận về sự tiến bộ thiêng liêng  và những vấn đề liên quan đến phúc lợi chung của cộng đoàn (CCD XIIIb, 15). Quy định nêu rõ trình tự cần tuân theo trong các cuộc họp này: Trình tự cần tuân theo trong các cuộc họp là đọc Kinh cầu Chúa Giêsu hoặc Đức Mẹ Maria trước mỗi công việc, và sau đó đọc các lời cầu nguyện tiếp theo. Tiếp theo, cha xứ hoặc phụ tá của ngài sẽ đưa ra lời khuyên ngắn gọn nhằm mục đích phát triển thiêng liêng của toàn thể hiệp hội và bảo tồn cũng như phát triển hiệp hội. Sau đó, ngài sẽ đề xuất những việc cần làm để chăm lo cho người nghèo bệnh tật, và sẽ kết thúc bằng đa số phiếu, mà ngài sẽ thu thập cho mục đích này, bắt đầu từ các tôi tớ bác ái, là người mới nhất được nhận vào hiệp hội, và tiếp tục theo thứ tự nhận vào cho đến quản lý, sau đó là thủ quỹ và bề trên (hay chủ tịch). Cuối cùng, ngài sẽ bỏ phiếu của mình, phiếu này sẽ có trọng lượng quyết định, giống như phiếu của các tôi tớ bác ái khác (CCD XIIIb,15).

Năm 1629, Thánh Vinh Sơn giao phó các Hội Huynh Đệ cho Thánh Louise de Marillac, là một người phụ nữ, một giáo dân, và là góa phụ, người muốn sống đức tin của mình và hiện thực hóa nó bằng cách giúp đỡ người nghèo. Ngài viết thư cho bà rằng: “cha Gondi (trùng tên với bà Gondi) đã nhắn tôi đến gặp ông ấy ở Montmirail bằng xe ngựa. Điều đó có lẽ sẽ ngăn cản tôi có vinh dự được gặp bà, vì tôi sẽ rời đi vào sáng mai. Bà có muốn đến đó không, thưa bà? Nếu vậy, bà sẽ phải khởi hành vào thứ Tư tuần sau bằng xe ngựa đến Châlons, ở Champagne. Xe ngựa đậu ở chỗ nhà Hồng y, đối diện với Saint-Nicolas-des-Champs. Và chúng ta sẽ có niềm vui được gặp bà ở Montmirail” (CCDI, 63-64). Bà suy nghĩ và chấp nhận đề nghị của cha Giám đốc Vinh Sơn và ngài bổ nhiệm bà làm người thăm viếng các tổ chức bác ái, và từ lúc đó bà bắt đầu đến thăm những người ở gần Paris và những người ở xa. Mục đích của những chuyến thăm của bà là để khuyến khích các thành viên của Hội Huynh Đệ trong công việc của họ, để đào tạo họ, để giúp họ sửa chữa những gì đã khiến họ đi chệch hướng khỏi mục đích của mình. Sau mỗi chuyến thăm, bà đều viết một bản báo cáo gửi cho cha Vinh Sơn, giải thích tình hình của Hội Huynh Đệ.

Như chúng ta thấy, tổ chức đầu tiên của Thánh Vinh Sơn được xây dựng trên những khía cạnh cơ bản của tính hiệp thông: sứ vụ, hiệp thông và sự tham gia.

Với tổ chức này, một cách thức mới để trở thành Giáo hội trong thế kỷ 17 đã bắt đầu. Mezzadri diễn đạt điều đó như sau: “Trước chủ nghĩa cá nhân thời Phục Hưng dựa trên chủ nghĩa nhân văn, cần nhấn mạnh cộng đồng trong tình đoàn kết; trước quan điểm coi giáo xứ là nơi thờ phượng và quản lý, cần chú trọng đến tầm quan trọng của nó như một trung tâm của lòng bác ái; trước xu hướng gạt bỏ người nghèo, cần có ý chí chia sẻ với họ; trước một Giáo hội bị choáng ngợp bởi ảnh hưởng và quyền lực của mình, cần trở thành Giáo hội của lòng bác ái; trước sự coi thường phụ nữ, họ được coi trọng trong xã hội và trong Giáo hội; trước sự bỏ bê người nghèo và việc bố thí không thường xuyên, cần có sự gần gũi với họ và lòng bác ái có tổ chức.”[2]

Theo thời gian, những gì từng là các Hội Huynh Đệ Bác ái đã trở thành Hiệp Hội Bác Ái Quốc tế (AIC) ngày nay. Điều lệ và văn kiện của Hiệp hội phản ánh rõ ràng những khía cạnh này, được cập nhật cho thực tế ngày nay ở cả cấp độ giáo hội và xã hội.

Nếu tính hiệp hành hàm nghĩa là “cùng nhau bước đi”, thì AIC có một khẩu hiệu rất hiệp hành: cùng nhau hành động chống lại nghèo đói. Những lời này phản ánh cách thức tồn tại và hoạt động của tổ chức từ thời Thánh Vinh sơn đến nay.

Trong Hiến chương của mình, họ nêu rõ ý nghĩa của hành động: cam kết với người nghèo xuất phát từ tình huynh đệ, noi theo Chúa Kitô theo phong cách của Thánh Vinh Sơn Phaolô.[3] Họ cũng xác định rõ sứ mệnh của mình: Theo gương Thánh Vinh Sơn và giáo huấn của Giáo hội: [1] Chống lại mọi hình thức nghèo đói và loại trừ, thông qua các sáng kiến ​​và dự án thay đổi; [2] Làm việc với anh chị em của chúng ta đang sống trong hoàn cảnh nghèo đói, khuyến khích việc khám phá những điểm mạnh cá nhân của mỗi người, hỗ trợ giáo dục và thúc đẩy một cuộc sống tử tế; [3] Lên án sự bất công và gây áp lực lên các cấu trúc xã hội dân sự và những người ra quyết định để chống lại các nguyên nhân gây ra nghèo đói.[4]

Tài liệu tương tự cũng đề cập đến “sự tham gia” của những người hưởng lợi từ hoạt động của nó: Sự tham gia của những người hưởng lợi là một yếu tố thiết yếu trong việc phát triển các dự án trao quyền. Điều này được thực hiện như thế nào? Bằng cách coi trọng điểm mạnh và khả năng của con người để đáp ứng những thách thức mà họ gặp phải, để có thể cùng nhau mơ ước và hành động nhằm thay đổi tình trạng nghèo đói, bằng cách áp dụng thái độ “người hỗ trợ”[5]

Thánh Louise đã tuyên bố: “Họ sẽ yêu thương nhau như những người chị em nhằm tôn vinh tinh thần của Chúa chúng ta.”[6] Đây là điều mà Hiến chương[7] phản ánh khi nó nêu lên tầm quan trọng của nhóm và việc sống trong sự hiệp thông: Nhóm, là một cộng đồng đức tin, hiệp thông, làm việc, chia sẻ và tình bạn,[8] tất cả để tập hợp sức mạnh xung quanh dự án chung: người nghèo, việc chăm sóc họ và truyền giáo.

Lm Phêrô Phạm Minh Triều, CM chuyển ngữ từ famvin.org

[1]  CCD:XIIIb:1. Vincent de Paul, Correspondence, Conference, Documents, translators: Helen Marie Law, DC (Vol. 1), Marie Poole, DC (Vol. 1-14), James King, CM (Vol. 1-2), Francis Germovnik, CM (Vol. 1-8, 13a-13b [Latin]), Esther Cavanagh, DC (Vol. 2), Ann Mary Dougherty, DC (Vol. 12); Evelyne Franc, DC (Vol. 13a-13b), Thomas Davitt, CM (Vol. 13a-13b [Latin]), Glennon E. Figge, CM (Vol. 13a-13b [Latin]), John G. Nugent, CM (Vol. 13a-13b [Latin]), Andrew Spellman, CM (Vol. 13a-13b [Latin]); edited: Jacqueline Kilar, DC (Vol. 1-2), Marie Poole, DC (Vol. 2-13b), Julia Denton, DC [editor-in-chief] (Vol. 3-10, 13a-13b), Paule Freeburg, DC (Vol. 3), Mirian Hamway, DC (Vol. 3), Elinor Hartman, DC (Vol. 4-10, 13a-13b), Ellen Van Zandt, DC (Vol. 9-13b), Ann Mary Dougherty (Vol. 11-12 and 14); annotated: John W. Carven, CM (Vol. 1-13b); New City Press, Brooklyn and Hyde Park, 1985-2014. Recently, John Rybolt, CM has published four volumes online of previously unpublished letters, conferences, and documents of Vincent de Paul. These can be found and downloaded from Saint Vincent de Paul / Correspondence, Conferences, Documents (English Translation) | Correspondence, Conferences, and Documents of St. Vincent de Paul | DePaul University. Future references to this work will use the initials [CCD] followed by the volume number, followed by the page number, and will be inserted in the text.

[2] Luigi Mezzadri, San Vicente de Paúl: el santo de la caridad [St. Vincent de Paul: The saint of charity], Editorial CEME, Salamanca, 2012, p. 70-71.

[3] International Association of Charities, Charter (2023 Edition), p. 8 and 9. https://www.aic-international.org/en/wp-content/uploads/sites/2/2023/12/2023_AIC-Charter-complete-EN.pdf

[4] Ibid., p. 12.a

[5] Ibid., p. 21.

[6] SWLM:709:A46. Louise de Marillac, Spiritual Writing of Louise de Marillac, edited and translated from the French by Sister Louise Sullivan, DC, New City Press, Brooklyn, New York, 1991.  Future references to this work will be inserted into the text using the initials [SWLM] followed by the page number, followed by number of the letter or the number of the writing and or manuscript.

[7] Charter (2023 Edition), p.13.

[8]  Ibid., p. 10.