TÍNH HIỆP HÀNH: NHỮNG TRỰC GIÁC CỦA THÁNH VINH SƠN – [Loạt bài về Đời sống Vinh Sơn-Tuần 25]

Đăng ngày: 8 giờ trước
Danh mục: LINH ĐẠO

Tính Hiệp hành là một từ được phổ biến bởi Thượng Hội đồng về Tính Hiệp hành (2023) vừa kết thúc dưới triều đại của Đức Giáo hoàng Phanxicô. Hiện nay đã có một lượng lớn tài liệu về khái niệm phổ biến nhưng cũng gây tranh cãi này trong cộng đồng Công giáo.

Trong quá trình diễn ra Thượng Hội đồng, một giám mục người Philippines đã nhắn tin cho tôi: “Nếu chỉ được phép nói một câu, đối với cha, chủ đề quan trọng nhất trong Thượng Hội đồng này là gì?”

Tôi nhắn lại với vị giám mục ấy rằng: “Đừng quên người nghèo và những người dễ bị tổn thương. Họ là những người ít được lắng nghe nhất trong các cấu trúc của Giáo hội.” Tính Hiệp hành không chỉ đơn thuần là về chúng ta — sự bình đẳng, sự hiệp thông, sự tham gia của chúng ta. Không, nó là về “những người khác” mà Giáo hội và xã hội chính thống luôn gạt ra ngoài lề. Những người bị xã hội gạt ra ngoài lề nhìn thẳng vào mặt chúng ta và đặt ra những câu hỏi về cấu trúc, ưu tiên, thần học và phụng vụ của chúng ta.

Mặc dù có khoảng cách 400 năm giữa Thánh Vinh Sơn và chúng ta, nhưng đây thực sự là trực giác chính của Thánh Vinh Sơn Phaolô về Giáo hội. Tôi muốn chia sẻ hai điều trong những suy tư hiện tại về tính hiệp hành: sự từ chối quyền lực của Thánh Vinh Sơn và những sáng kiến ​​của ngài hướng tới việc trao quyền.

Vấn đề nổi cộm nhất trong Giáo hội thời nay là chủ nghĩa giáo sĩ trị, một tai họa trong Giáo hội hiện tại. Nước Pháp thời Thánh Vinh Sơn đã phải gánh chịu hậu quả nặng nề của nó. Khi đó, quyền lực, tiền bạc và tham vọng dễ dàng đạt được hơn thông qua việc “phục vụ” trong Giáo hội. Paris có rất nhiều “giáo sĩ cấp cao” như vậy. Họ đều ở trong thành phố và mải mê với những nghi lễ phô trương và hào nhoáng, trong khi bỏ mặc các vùng nông thôn cho những “giáo sĩ cấp thấp” thiếu kinh nghiệm.

Việc Thánh Vinh Sơn kiên quyết yêu cầu các linh mục và nữ tử của mình đến các vùng nông thôn là một dấu hiệu phản đối hiện trạng đó — bốn thế kỷ trước khi Giáo hoàng Phanxicô kêu gọi tất cả các linh mục và toàn thể Giáo hội “đi đến vùng ngoại vi”.

Nhiều câu chuyện khác cho thấy Thánh Vinh Sơn đã kịch liệt phản đối quyền lực chính trị và giáo sĩ trị dựa trên sự phô trương vật chất và tham vọng chính trị. Những cuộc đối đầu dũng cảm của ngài với Hồng y Mazarin, Thủ tướng của Nữ hoàng, đều được nhiều người biết đến.

Nhưng ngay cả trong phong thái thường nhật, Thánh Vinh Sơn cũng từ chối tuân theo nghi thức cung đình, cách ăn mặc, sự phô trương và nghi lễ thể hiện địa vị thứ bậc trong giới quý tộc.

Ngài đến cung đình trong bộ lễ phục giản dị dù bị chế giễu. Phong cách “cung đình” không theo khuôn phép mà Thánh Vinh Sơn thể hiện là một hành động phản kháng lại quyền lực thống trị dường như đáng gờm đang tự tái tạo trong giới quý tộc. Nói cách khác, sự hiện diện giản dị nhưng tự tin của ngài vô tình trở thành mối đe dọa đối với những người khác đang cạnh tranh giành giật vị trí cao trong giới quý tộc này. Nếu bạn muốn dùng ngôn ngữ tôn giáo hơn, thì lối sống giản dị của ngài là một thách thức đối với môi trường đầy tham vọng quyền lực và coi trọng địa vị này.

Điểm thứ hai là trao quyền. Nếu chúng ta muốn một Giáo hội hiệp hành, chúng ta cần trao quyền cho tất cả các bộ phận của Giáo hội. “Trở thành một Giáo hội biết lắng nghe” chỉ xảy ra khi người ngồi trong các hàng ghế nhà thờ có khả năng lên tiếng. Bởi vì lên tiếng không phải là khả năng tự nhiên đối với hầu hết mọi người. Một số người đã quen với việc bị im lặng trong nhiều thế kỷ. Họ đã bị tẩy não để nghĩ rằng họ không có quyền đó. Sứ vụ của Thánh Vinh Sơn dành riêng cho việc trao quyền cho tất cả các bộ phận bị im lặng.

Trước hết, nếu hàng giáo sĩ cấp thấp là những bộ phận bị bỏ quên của Giáo hội Pháp, thì Thánh Vinh Sơn đã hướng tất cả nguồn lực của mình và của Tu hội nhỏ của mình để đào tạo họ trong chương trình chủng viện toàn diện theo tầm nhìn của Giáo hội thời bấy giờ. Trong một bức thư gửi Giám mục Perigueux, Thánh Vinh Sơn đã cố gắng giải thích lý do tại sao cả hai bên cùng tham gia vào công việc truyền giáo và đào tạo chủng viện: “Chúng tôi cũng cố gắng giúp đào tạo những linh mục tốt thông qua các khóa tĩnh tâm cho các ứng viên chịu chức và thông qua các chủng viện — không phải để từ bỏ các sứ mệnh mà để bảo tồn những thành quả mà chúng mang lại” (CCD?). Đây là di sản mà Tu hội đã cống hiến trên toàn thế giới từ thời Thánh Vinh Sơn cho đến ngày nay.

Thứ hai, nếu như giáo dân, đặc biệt là phụ nữ, là một bộ phận bị bỏ quên trong Giáo hội thời nay bất chấp hơn năm mươi năm của giáo lý Giáo hội Công đồng Vatican II, thì thời của Thánh Vinh Sơn cũng vậy. Các Hội Huynh đệ Bác ái, là những nhóm giáo dân đặt tại các giáo xứ, là những phản ứng đầu tiên của Thánh Vinh Sơn đối với nghèo đói, thậm chí trước cả việc tổ chức các nhà truyền giáo và các Nữ tử. Ở những nơi có thành viên là phụ nữ, họ tự gọi mình là “Các Bà Bác ái”.

Trước Hội các Bà Bác ái được tổ chức tại Hotel-Dieu, Thánh Vinh Sơn đã đưa ra nhận xét quan trọng về lịch sử Giáo hội: “Trong khoảng tám trăm năm, phụ nữ không có vai trò công khai nào trong Giáo hội; trước đây có một số người được gọi là nữ phó tế, chịu trách nhiệm sắp xếp các phụ nữ trong nhà thờ và dạy họ các nghi thức phụng vụ hiện hành. Tuy nhiên, vào khoảng thời Charlemagne, nhờ sự can thiệp kín đáo của Chúa Quan phòng, thực tiễn này đã chấm dứt; những người thuộc giới tính của các quý bà đã bị tước bỏ mọi vai trò và không có vai trò nào kể từ đó. Và giờ đây, chính sự Quan phòng ấy đang hướng đến một số người trong số quý bà để bù đắp những gì còn thiếu…” (CCD XIIIb, 432). Phần còn lại là lịch sử.

Trong một Giáo hội thời trung cổ nơi giáo dân bị gạt ra ngoài lề, trực giác của Thánh Vinh Sơn đã dẫn ngài vượt qua nền văn hóa trọng nam khinh nữ để thực sự trao quyền cho giáo dân nam và nữ trong Giáo hội, đặc biệt là trong việc phục vụ người nghèo.

Bốn trăm năm sau, Đức Giáo hoàng Phanxicô quay trở lại với trực giác và thực hành Kitô giáo sơ khai đó, và đấu tranh cho một vai trò rộng lớn hơn của phụ nữ trong Giáo hội. Mới đây, khi nói chuyện với các thành viên của Ủy ban Thần học Quốc tế, Đức giáo hoàng nói với họ: “Đây là một nhiệm vụ tôi giao cho các anh chị em, xin hãy làm. Hãy ‘phi nam tính hóa’(Demasculinize) Giáo hội.”

Dĩ nhiên, Thánh Vinh Sơn là một người rất sống trong thời đại của mình. Giáo lý của ngài là Giáo hội Công đồng Trentô có hệ thống phẩm trật, như các bài thuyết giảng của ngài đã cho thấy. Nhưng vẫn có những “vết nứt trên bức màn đền thờ”, như người ta vẫn nói.

Vượt ra ngoài mô hình thể chế thống trị, chúng ta thấy trực giác của Thánh Vinh Sơn về một Giáo hội hiệp hành. Khi giải thích Luật Chung cho các anh em của mình về chủ đề bác ái, ngài đã chỉ ra một giáo lý về Giáo hội hiệp hành chỉ trở nên phổ biến trong hình ảnh về thân thể huyền nhiệm của Công đồng Vatican II.

“Tất cả chúng ta tạo nên một thân thể huyền nhiệm,” Thánh Vinh Sơn nói, “nhưng tất cả chúng ta đều là thành viên của nhau. Chưa bao giờ có ai nói rằng một thành viên, ngay cả trong giới động vật, lại không cảm thông với nỗi đau khổ của một thành viên khác, hoặc một phần cơ thể của một người có thể bị bầm tím, bị thương, hoặc bị tổn hại mà các phần khác không cảm nhận thấy. Điều đó là không thể… Là một Kitô hữu mà nhìn thấy anh em mình đau khổ mà không khóc cùng họ, không đau khổ cùng họ! Đó là thiếu bác ái; đó là một hình ảnh méo mó của một Kitô hữu; đó là vô nhân đạo; đó thì còn tệ hơn cả động vật” (CCD XII, 221-222).

Những lời này cũng có thể dễ dàng được chuyển sang các bản văn của Fratelli Tutti. “Giờ đây chỉ có hai loại người: Những người quan tâm tới kẻ bị thương và những người bỏ đi qua; những người cúi xuống giúp đỡ và những người tìm đường khác mà bỏ đi. Ở đây, tất cả những nét phân biệt của chúng ta, những nhãn hiệu và mặt nạ đều rơi rụng: đây là khoảnh khắc của sự thật. Chúng ta có sẽ cúi xuống chạm vào và chữa lành những vết thương của người khác không? Chúng ta có sẽ cúi xuống và giúp người khác đứng dậy không? Đó là thách đố của ngày hôm nay, và chúng ta đừng sợ đối diện với nó” (ĐGH Phanxicô, Fratelli tutti, # 70).

Mặc dù bốn trăm năm đã trôi qua, nhưng những trực giác của Thánh Vinh Sơn vẫn còn đúng trong thế kỷ của chúng ta, nghĩa là, để mọi người cảm nhận được sự hiện diện của Chúa trong thế giới, chúng ta cần lên án sự lạm dụng quyền lực và trao quyền cho những người mà xã hội khao khát quyền lực này đã loại trừ.

Cha Daniel Franklin E. Pilario, CM (Adamson University)

Nguồn: adamson.edu.ph/

Ban Truyền thông chuyển ngữ.