Đời sống Cộng đoàn nơi Thánh Vinh Sơn

Đăng ngày: 13 giờ trước
Danh mục: LINH ĐẠO

Trước khi bắt đầu, tôi cần nói rằng mặc dù không hoàn toàn đồng ý với mọi kết luận của ngài, nhưng công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về đời sống cộng đoàn thời Thánh Vinh Sơn chính là bài viết của Cha Suescun trong cuốn Từ điển Linh đạo Vinh Sơn (Dictionary of Vincentian Spirituality). Tôi xin giới thiệu tài liệu này cho bất kỳ ai muốn có cái nhìn thấu đáo hơn về tư tưởng của Thánh Vinh Sơn.

Tôi cũng sẽ bàn về chủ đề này từ một góc độ khác mà tôi thấy rất thú vị, và tôi sẽ luôn cố gắng sử dụng chính lời của vị thánh thay vì những suy nghĩ cá nhân của mình.

Đôi nét dẫn nhập về lịch sử

Phần dẫn nhập trong Hiến pháp hiện hành của Tu Hội Truyền Giáo có đoạn nói rằng Thánh Vinh Sơn đã “trao phó cho các môn đệ của mình trong Chúa một mô hình cộng đoàn mới.” Tôi có chút hoài nghi về tính chính xác lịch sử của cụm từ đó. Tôi nhớ rằng trong một kỳ Tổng Đại hội, tôi đã phản đối việc đưa cụm từ này vào văn bản, nhưng không thành công.

Trong suốt một thế kỷ rưỡi sau Công đồng Trentô, đã có nhiều nỗ lực nhằm tìm kiếm một phong cách sống cộng đoàn mới. Một số tổ chức tiên phong trong phong trào này bao gồm: Dòng Giáo sĩ Khiêm hạ (Cleric Regular Minor) hay Dòng Theatine của Thánh Cajetan tại Thiene; sau đó là Dòng Barnabite của Thánh Anthony Maria Zaccaria và Dòng Somascan của Thánh Jerome Emiliani. Tất cả các dòng này đều nỗ lực hài hòa giữa những nghĩa vụ của đời sống tu trì và sứ vụ tông đồ vốn đặc trưng cho hàng giáo sĩ triều.

Mãi về sau, đi theo cùng một hướng nhưng với tinh thần triệt để hơn, là sự xuất hiện của Dòng Tên và Dòng Oratory(thuyết giảng) của Thánh Philip Neri. Dòng Oratory của Thánh Philip Neri là một cộng đoàn rất cởi mở, không có Hiến pháp hay Luật chung, và thậm chí không có Bề trên Tổng quyền. Tại Pháp, họ lấy Dòng Oratory của Bérulle và Hội các Linh mục Giáo lý Kitô giáo (Priests of Christian Doctrine) của Kinh sĩ César de Bus làm mẫu mực; Thánh Vinh Sơn đã nhiều lần nhắc đến vị Kinh sĩ này trong các thư từ của ngài.

Điểm chung của các hội dòng này là sự quan tâm đến công cuộc cải cách Giáo hội theo tinh thần Công đồng Trentô. Họ sống giữa đời và đặt mục vụ làm ưu tiên hàng đầu, đồng thời vẫn duy trì các đòi hỏi của đời sống tu trì trong đời sống thiêng liêng và trong cộng đoàn. Những thành viên tuyên khấn—vốn là vấn đề gây nhiều tranh cãi trong các cộng đoàn này—tin rằng lời khấn hoàn toàn không phải là trở ngại đối với sứ vụ.

Chính trong bối cảnh đó, Tu Hội Truyền Giáo đã ra đời. Nếu để ý, ta sẽ thấy Dòng Oratory của Bérulle được thành lập năm 1611 và Hội các Linh mục Giáo lý Kitô giáo của César de Bus năm 1619; nghĩa là lần lượt bốn mươi sáu năm trước khi Tu Hội Truyền Giáo được thành lập. Trước đó, họ đã có Hội các Linh mục Thánh Tâm Chúa Giêsu của Thánh Jean Eudes và Hội Sulpice (Xuân Bích) của Cha Olier.

Điều mà mọi người tìm kiếm—và cũng là điều Thánh Vinh Sơn đã cụ thể hóa trong Luật chung cùng Hiến pháp của Tu Hội Truyền Giáo—chính là một lối sống trong đó cộng đoàn phục vụ sứ vụ chứ không phải ngược lại. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là xem nhẹ những đòi hỏi của đời sống cộng đoàn.

Một “đặc tính” của Tu hội

Ngay từ đầu, nếp sống chung đã là bản chất của Tu Hội Truyền Giáo. Đó là một yếu tố nền tảng, theo đúng nghĩa chặt chẽ của từ này trong triết học của Aristotle. Trong văn bản thành lập được ký kết giữa Thánh Vinh Sơn và gia đình de Gondi vào ngày 17 tháng 4 năm 1625 – ngày được coi là ngày thành lập Tu hội — đã quy định rằng:

“Các linh mục này sẽ sống chung dưới sự vâng phục cha Vinh Sơn Phaolô theo cách thức đã nêu trên, và vâng phục Bề trên kế nhiệm sau khi ngài qua đời, dưới danh xưng là Tu hội, Hội dòng hay Huynh đoàn các cha hoặc các linh mục truyền Giáo.”

Và rằng: “Sau khi phục vụ khoảng một tháng trong Tu hội nói trên, các ngài sẽ trở về cư trú chung trong hai tuần tại nơi ở chung hoặc tại một địa điểm khác do bề trên chỉ định.”[1]

Rõ ràng, các điều khoản này phản ánh ý tưởng mà Thánh Vinh Sơn muốn định hình cho tổ chức mà ngài vừa mới khởi xướng; bất chấp thực tế là chưa có gì chắc chắn về bản chất của tổ chức đó — liệu nó sẽ là một tu hội, một hội dòng hay một huynh đoàn.

Vào năm sau đó, ngày 4 tháng 9 năm 1626, trong Văn bản Liên kết các Nhà Truyền giáo Tiên khởi cùng với các linh mục – cha du Coudray, cha Portail và cha de la Salle – Thánh Vinh Sơn đã tuyên bố: “chúng tôi chọn, bầu, thâu nhận và liên kết họ với chính bản thân họ và với công cuộc nói trên, để cùng sống như một Hội dòng, một Tu hội hoặc một Huynh đoàn, và để hiến thân cho công cuộc cứu rỗi của những người dân nghèo miền quê.”[2]

Về phần mình, vào ngày 20 tháng 7 năm 1626, Đức Tổng Giám mục Paris, trong dịp chuyển giao quyền sở hữu và các danh hiệu của Trường Bons-Enfants (Collège des Bons-Enfants) cho Thánh Vinh Sơn và Tu hội mới của ngài, đã nói: “chúng tôi trao phó và ban tặng – cùng với tất cả các quyền lợi và tài sản đi kèm – trách vụ quản nhiệm và nhà nguyện của Trường Bons-Enfants (vốn đang bị bỏ trống như đã nêu) cho Tu hội hoặc Cộng đoàn các Linh mục Truyền Giáo.”[3]

Ngoài ra, Văn thư Hoàng gia phê chuẩn Tu Hội Truyền Giáo vào tháng 5 năm 1627 cũng cho thấy tính chất cộng đoàn của Tu hội. “Quy tụ và sống đời sống chung, sau khi đã từ bỏ các điều kiện và công việc tại chốn đô thị, họ sẽ hoàn toàn và trọn vẹn hiến thân cho việc giáo huấn thiêng liêng cho người nghèo” (Tài liệu đã dẫn, Tài liệu 62, tr. 226).

Tôi không thấy cần thiết phải tiếp tục liệt kê các chi tiết liên quan đến đời sống chung trong tất cả các văn bản liên quan đến Tu hội trong 8 năm đầu hoạt động. Trong những năm đó, trước tiên là tại Collège des Bons-Enfants và sau đó là tại Saint-Lazare, đời sống chung không còn chỉ là một quy định lý thuyết mà đã trở thành một thực tế sống động. Đó là điều được mô tả trong Sắc chỉ Salvatoris Nostri năm 1633: “… tại thành phố Paris… ở đó họ sống – và vẫn đang sống – đời sống chung dưới quyền bính và sự hướng dẫn của cha Vinh Sơn nói trên, người đã được chọn hoặc bầu làm Bề trên Tổng quyền trọn đời của ngôi nhà và Tu hội này, tức Tu Hội Truyền Giáo.”[4]

Những Quy luật Đầu tiên

Đời sống chung đó đã trở thành một phần của Sắc chỉ cũng như Quy luật dành cho Tu Hội Truyền Giáo. Sau hai năm thử thách, các ứng viên của Tu hội “có thể được tháp nhập vào Tu hội và được nhận làm thành viên”. Họ sẽ tham dự Thánh lễ mỗi ngày, thường xuyên lãnh nhận Bí tích Hòa giải và rước Mình Thánh Chúa hàng tuần. Tuy nhiên, các linh mục phải cử hành Thánh lễ mỗi ngày. Nhưng tất cả mọi người, dù là linh mục hay các thành viên khác, đều phải dành trọn một giờ để suy niệm và thực hành việc xét mình.”[5]

Cần lưu ý rằng, bất cứ khi nào đời sống chung được khẳng định là nét đặc trưng của Tu hội, bản văn luôn làm rõ rằng đời sống chung ấy hướng trực tiếp đến một mục tiêu tông đồ: “sống cùng nhau như một hội dòng, một tu hội hay một huynh đoàn, và hiến thân cho công cuộc cứu rỗi những người dân nghèo miền quê” (Tài liệu đã dẫn, Tài liệu 61, tr. 222). Đó chính là lối sống đặc thù của Tu hội.

Việc cộng đoàn hướng về sứ vụ không biến đời sống cộng đoàn thành một phương tiện đơn thuần, cũng không làm giảm đi những đòi hỏi khắt khe so với các hội dòng khác trong Giáo hội. Như chúng ta đã biết, Thánh Vinh Sơn không muốn Tu Hội Truyền Giáo trở thành một dòng tu theo nghĩa truyền thống, nhưng ngài không ngần ngại so sánh lối sống của Tu hội với các cộng đoàn tu trì nghiêm ngặt khác như dòng Biển Đức hay dòng Carthusian. Chẳng hạn, trong bài huấn đức ngày 6 tháng 12 về mục đích của Tu Hội Truyền Giáo, ngài đã giải thích lý do tại sao Luật chung lại bắt đầu bằng việc nêu rõ mục đích thành lập Tu hội. Ngài khẳng định: “Thưa anh em, thật thích hợp khi bắt đầu bộ quy luật này bằng việc tuyên bố mục đích mà Tu hội hướng tới, cũng như xác định nội dung và cách thức Tu hội phụng sự Thiên Chúa; đó là phương thức mà Thánh Augustinô, Thánh Biển Đức và tất cả những vị sáng lập các hội dòng đã áp dụng. Ngay từ đầu, họ đã nêu rõ những gì mình dự định thực hiện và bắt đầu bằng việc định nghĩa hội dòng của mình.”[6]

Điều này cho thấy Thánh Vinh Sơn hoàn toàn ý thức rằng nếp sống cộng đoàn mà ngài đang xây dựng cũng mang đầy đủ đặc tính của cộng đoàn như các Dòng Augustinô, Dòng Tên hay bất kỳ hội dòng hoặc dòng tu nào khác. Tuy nhiên, ngài cũng hiểu rằng cộng đoàn của mình có nét khác biệt, dù chỉ ở khía cạnh tinh thần.

“… đối với mọi hội dòng mà Thiên Chúa thiết lập để phụng sự Ngài, Ngài đều ban cho một tinh thần đặc thù, cùng với sự quý trọng và thực hành các nhân đức gắn liền với tinh thần ấy”[7]

“Ngài ban cho Dòng Capuchin tinh thần nghèo khó; nhờ đó, họ tiến về phía Thiên Chúa, sống tách biệt khỏi mọi lo toan trần thế và không sở hữu bất cứ tài sản nào. Với Dòng Carthusian, Ngài ban cho tinh thần cô tịch. Họ hầu như luôn sống trong sự cô tịch; chính tên gọi của họ cũng phản ánh tinh thần này, bởi lẽ các nhà tù xưa kia không được gọi là nhà tù mà gọi là ‘charter house’ (nhà dòng Carthusian); tinh thần ấy khiến họ luôn là những tù nhân của Chúa chúng ta. Với Dòng Tên, Thiên Chúa ban cho họ tinh thần học vấn để chia sẻ với người khác. Tinh thần của các nữ tu Dòng Cát Minh (Carmelite) là sự khổ hạnh; còn tinh thần của các nữ tu Dòng Thăm Viếng (Visitation) – những người hướng tới tình yêu sâu sắc dành cho Thiên Chúa – lại là sự dịu hiền và khiêm nhường. Như vậy, thưa các chị em thân mến, Thiên Chúa ban tinh thần của Ngài cho mỗi nhóm một cách khác nhau, sao cho tinh thần của nhóm này không giống tinh thần của nhóm kia.”[8]

Tuy nhiên, xét đến những đòi hỏi của đời sống cộng đoàn, Thánh Vinh Sơn không hề đặt ra những yêu cầu nhẹ nhàng hơn so với các cộng đoàn khác, dù đó là cộng đoàn tu sĩ hay không phải là cộng đoàn tu sĩ. Khi diễn giải lại các điều kiện của đời sống đan tu theo tư tưởng của Kempis, Thánh Vinh Sơn đã biến những điều kiện ấy thành kim chỉ nam cho chính mình:

Ai mong muốn sống đời cộng đoàn thì phải sẵn sàng và quyết tâm sống như một khách lữ hành trên trần thế; chấp nhận trở nên kẻ khờ dại vì Đức Kitô; thay đổi nếp sống; chế ngự các đam mê; chỉ tìm kiếm một mình Thiên Chúa; nỗ lực trở nên người bé mọn nhất và phục tùng mọi người; xác tín rằng mình đến để phục vụ chứ không phải để cai trị; để chịu gian khổ chứ không phải để sống an nhàn; để lao tác chứ không phải để phí hoài thời gian vào sự nhàn rỗi và những lời tán gẫu vô bổ. Chúng ta cần biết rằng tại đó, con người được tôi luyện như vàng trong lò lửa; rằng chẳng ai có thể kiên trì nếu không sẵn lòng hạ mình hết tâm trí vì lòng yêu mến Thiên Chúa. Và hãy tin chắc rằng nếu sống và làm việc theo cách này, người ấy sẽ tìm thấy hạnh phúc đích thực ở đời này và được hưởng sự sống đời đời ở đời sau.[9]

Ngay khi Tu Hội Truyền Giáo được thành lập, đời sống cộng đoàn đã được thực thi một cách mạnh mẽ. Thánh Vinh Sơn rất khó chấp nhận việc một nhà truyền giáo rời khỏi cộng đoàn, dù chỉ trong thời gian ngắn. Chúng ta đều biết ngài đã đắn đo và gặp nhiều khó khăn như thế nào khi phải cho phép ai đó về thăm gia đình.

Ngay cả những người đang thi hành sứ vụ tông đồ cũng không được miễn trừ. Trong thời gian đi truyền giáo, họ phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc giống như khi ở trong nhà dòng. Đôi khi họ còn giữ kỷ luật rất khắt khe: họ cùng nhau giải tội và giảng thuyết; cùng nhau trở về từ nhà thờ; giữ thói quen đọc sách thiêng liêng trong bữa ăn; và từ chối mọi lời mời dùng bữa bên ngoài tu viện giáo xứ hoặc tại nhà của người dân nơi họ đang thực hiện công cuộc truyền giáo.

Cộng đoàn lý tưởng

Hơn cả khía cạnh pháp lý của cộng đoàn, chúng ta quan tâm đến việc hiểu tinh thần Vinh Sơn đằng sau điều đó. Dù có vẻ đáng ngạc nhiên, Tu Hội Truyền Giáo không có bất kỳ bài diễn văn nào của Thánh Vinh Sơn nói chính thức về đời sống cộng đoàn. Như chúng ta đã biết, ngài không dành thời gian để giải thích Chương VIII của Luật chung De Mutua Nostrorum Conversatione (Sống hòa thuận với nhau). Chương này đề cập đến đời sống cộng đoàn và được hiểu là “cuộc trò chuyện giữa chúng ta”, trong khi sẽ thích hợp hơn nếu gọi nó là “Sự Quan tâm lẫn nhau” hoặc, theo một cách hiểu tự do hơn mà vẫn trung thành với ý tưởng, là “Về Đời sống trong Cộng đoàn”.

Mặt khác, chúng ta có hai bài diễn văn quý giá: một về sự thống nhất và một về lòng bác ái huynh đệ (điều 11 và 12 của Chương 2, Luật chung), phản ánh thực tế tất cả tư tưởng của vị thánh về tinh thần cần thiết cho đời sống cộng đoàn; nhất là khi chúng ta xem xét tất cả những ám chỉ khác nhau về điều đó được tìm thấy trong các bức thư của ngài và thậm chí trong các bài diễn văn gửi cho các Nữ Tử Bác Ái.

Điều thú vị là đối với Thánh Vinh Sơn, đời sống cộng đoàn và sự đồng nhất là đồng nghĩa. Lý do của sự đồng nhất là để tôn vinh đời sống chung như Chúa Kitô đã sống. Chúng ta nên hiểu rằng “chung” ở đây có nghĩa là đời sống bình thường, đời sống thực tế, không có sự khác biệt, mà tất cả đều nằm trong bối cảnh của đời sống cộng đoàn. Chính từ đó mà Thánh Vinh Sơn định nghĩa phạm vi của đời sống chung.

“Chúa Kitô đã muốn đề cao lối sống chung để Người có thể giống như người khác và, bằng cách đó, dẫn đưa họ về với Thiên Chúa Cha một cách dễ dàng hơn. Cũng vậy, tất cả chúng ta, trong khả năng có thể, cần phải duy trì sự tương đồng với nhau trong mọi điều; chúng ta cần xem đây như là khiên che thuẫn đỡ cho trật tự tốt đẹp và sự thánh thiện thường đi đôi với nhau. Theo cách thức đó, chúng ta cần tránh tất cả những gì khác với bình thường, vì điều đó có thể là nguyên nhân của lòng ghen tị và sự bất hòa. Tất cả những điều này không chỉ được áp dụng trong việc ăn uống, trang phục, chỗ ngủ và những thứ tương tự khác, mà còn được áp dụng cho những phương thức điều hành, giảng dạy, rao giảng, thực thi quyền bính, cũng như những thực hành thiêng liêng ” (Luật chung CM, chương II, # 11).

Chương về đức khó nghèo sẽ liệt kê chi tiết hơn những gì họ nên có chung. Ở đây thậm chí cả sách cũng được bao gồm.

“Theo gương của những người Kitô hữu đầu tiên, tất cả tài sản của chúng ta đều là tài sản chung và được bề trên phân phát cho từng thành viên, chẳng hạn như thức ăn, quần áo, sách vở, đồ đạc, v.v., theo nhu cầu của mỗi người.”[10]

Sống trong cộng đoàn có nghĩa là có của cải chung và đương nhiên, điều này chưa đủ. Cuộc sống trong cộng đoàn có những mô hình để noi theo mà Thánh Vinh Sơn xếp hạng theo thứ bậc thần học. Mô hình cao nhất là Chúa Ba Ngôi, điều mà đối với chúng ta bây giờ dường như là một ý tưởng hiện đại. “Sự hiệp nhất tồn tại trong Chúa Ba Ngôi; điều Chúa Cha muốn, Chúa Con cũng muốn; điều Chúa Thánh Thần làm, Chúa Cha và Chúa Con cũng làm; Ba Ngôi hành động theo cùng một cách; Ba Ngôi chỉ là một Chúa và cùng một quyền năng, một Chúa và cùng một hoạt động. Hãy nhìn xem sự khởi đầu của sự hoàn hảo và là hình mẫu của chúng ta.”[11]

Có lẽ điều này sẽ còn rõ ràng hơn nữa từ bài nói chuyện dành cho các Nữ Tử Bác Ái nhưng cũng áp dụng được -và thực sự áp dụng – cho các anh em Truyền Giáo:

“Phải có sự hiệp nhất chặt chẽ giữa các chị em và, nếu có thể, thì phải giống như sự hiệp nhất của Ba Ngôi Chí Thánh; vì, hỡi các chị em thân yêu, làm sao các chị em có thể thực hành lòng bác ái và dịu dàng với những người nghèo, nếu các chị em không thực hành những đức tính đó giữa các chị em với nhau?”[12]

Một phản ánh của mô hình Ba Ngôi là cộng đoàn của Chúa Kitô với các tông đồ của Ngài, vì đời sống chung của Tu hội có tấm gương chính là Chúa Giêsu Kitô sống chung với các tông đồ và các môn đệ của Ngài.[13]

Mô hình thứ hai gần gũi với chúng ta hơn, nhưng điều đó không có nghĩa là nó dễ noi theo hơn: đó là đời sống của các Kitô hữu tiên khởi. Chúng ta biết rằng những mô tả trong sách Công vụ Tông đồ mang tính lý tưởng. Dù có ý thức hay không, Thánh Vinh Sơn đã tiếp nhận những mô tả ấy theo nghĩa đen. Điều này áp dụng cho cả của cải vật chất của cộng đoàn—như chúng ta vừa nghe: “noi gương các Kitô hữu tiên khởi, mọi sự giữa chúng ta sẽ là của chung”—và quan trọng hơn cả là sự hiệp nhất về mặt thiêng liêng.

“… chúng ta phải hiến dâng mình cho Thiên Chúa để đạt được sự hiệp nhất trọn hảo; sự hiệp nhất này sẽ ban cho chúng ta cùng một tinh thần, cùng những điều ưa thích và những điều ghét bỏ, cũng như cùng một cách hành xử. Chúng ta cần nài xin Thiên Chúa ban cho chúng ta — như các Kitô hữu tiên khởi — một lòng một ý.”[14]

Cuối cùng, một mô hình mang tính thực tế và gần gũi hơn là sự hiệp nhất như tình bạn hữu. Quả thực, đời sống chung của chúng ta cần thể hiện tinh thần—xin cho phép tôi trích dẫn một câu tiếng Latinh in morem carorum amicorum inter se semper conviventes, nghĩa là sống như những người bạn thân thiết luôn gắn bó bên nhau.

Việc đào tạo Cộng đoàn

Theo “Phương pháp Nhỏ” của Thánh Vinh Sơn, giờ đây chúng ta cần tự hỏi về những phương thế mà ngài đề xuất để đạt tới lý tưởng cao đẹp này—đó là noi gương Chúa Ba Ngôi, sự hiệp nhất của các thánh và đời sống huynh đệ. Đối với Thánh Vinh Sơn, tất cả những điều đó được thể hiện qua đời sống cộng đoàn.

Trong lĩnh vực này, đức ái giữ vị trí hàng đầu. Thánh nhân đã dành những bài huấn đức hay nhất của mình để nói về đức ái, và cụ thể hơn là đức ái huynh đệ. Điều này xuất phát từ một xác tín lâu dài của ngài: đức ái chính là mối dây duy nhất có thể kiến tạo và duy trì một cộng đoàn.

“Lòng bác ái là chất keo kết dính các cộng đoàn với Thiên Chúa và các cá nhân với nhau theo cách mà bất cứ ai góp phần vào sự hiệp nhất của các tâm hồn trong một cộng đoàn đều gắn kết cộng đoàn đó với Thiên Chúa một cách không thể tách rời.”[15]

Và ngài đưa ra lý do xuất phát từ chính cốt lõi của lý do tồn tại của cộng đoàn, tức là, cộng đoàn đó là một cộng đoàn vì sứ vụ.

“Giờ đây, nếu quả thật chúng ta được kêu gọi lan tỏa tình yêu của Chúa đến mọi hướng, nếu chúng ta có bổn phận nhóm lên ngọn lửa ấy giữa các quốc gia, nếu ơn gọi của chúng ta là lan tỏa ngọn lửa thiêng liêng này khắp thế giới; nếu vậy, hỡi các anh em, làm sao chính tôi lại không bừng cháy với ngọn lửa thiêng liêng? Làm sao tôi lại không được nhóm lên bởi tình yêu của những người tôi sống cùng, làm sao tôi lại không xây dựng anh em mình bằng việc thực hành tình yêu này và dẫn dắt các anh em thân yêu của tôi đến việc thực hành những hành động xuất phát từ tình yêu này? … nếu chúng ta không yêu thương nhau như Chúa Giêsu Kitô đã yêu thương chúng ta, nếu chúng ta không làm những việc giống như Ngài, làm sao chúng ta có thể hy vọng lan tỏa tình yêu này khắp thế giới? Chúng ta không thể cho đi những gì chúng ta không có. Vậy thì, làm sao một Tu hội không có lòng bác ái đích thực trong chính mình lại có thể nhóm lên ngọn lửa trong lòng người khác?”[16]

Phương tiện thứ hai tạo nên một cộng đoàn là thẩm quyền của bề trên. Luật chung trao cho Bề trên một vai trò rất quan trọng trong mọi việc liên quan đến việc tổ chức đời sống cộng đoàn. Đối với mọi việc, bạn phải nhờ đến Bề trên. Cha Corera đã thực hiện một nghiên cứu thú vị về chủ đề này,[17] mặc dù chính ông thừa nhận rằng nó phiến diện vì ông chỉ giới hạn trong văn bản của Luật chung. Cách xử lý chủ đề của ông nên được bổ sung bằng các bức thư và lời khuyên mà Thánh Vinh Sơn đã gửi đến các bề trên. Trong bất kỳ trường hợp nào, tầm nhìn của một bề trên, người chịu trách nhiệm, dù tốt hay xấu, về những gì xảy ra trong cộng đoàn, không chỉ đơn thuần là chủ nghĩa độc đoán mà rõ ràng phản ánh một tầm nhìn Dionysian [không phải dionysiac] về thực tại cả về tinh thần và trần tục đã thống trị bầu không khí thần học vào thời điểm đó và có lẽ Thánh Vinh Sơn đã thừa hưởng từ người thầy của mình là Berulle.

Trong lời khuyên của mình cho các bề trên, Thánh Vinh Sơn nhấn mạnh rằng để quyền lực có hiệu quả, nó phải mang tính hiền lành và dịu dàng (kiên định về mục đích và dịu dàng trong phương tiện, có bàn tay sắt trong găng tay lụa) và phải được thực thi với một liều lượng lớn sự hạ mình và khoan dung. Nó nên lắng nghe những lời khuyên và ý kiến của những người được cai trị thông qua đối thoại trong cộng đoàn. (Điều rất quan trọng là những người chỉ huy không nên làm bất cứ điều gì mà không có ý kiến của người khác.)[18] Và trên hết, nó đòi hỏi những người bề trên phải có khả năng chịu đựng đau khổ.

“Suy nghĩ về những gì Chúa chúng ta đã chịu đựng từ các môn đệ của Ngài sẽ đặc biệt khích lệ các con, vì những thử thách của chúng ta càng giống với Ngài thì chúng ta càng làm Ngài hài lòng.”[19]

“… nhưng tôi xin anh em hãy chịu đựng Ngài như Chúa chúng ta đã chịu đựng các môn đệ của Ngài, những người đã cho Ngài lý do chính đáng để phàn nàn—ít nhất, một số người trong số họ đã làm như vậy. Tuy nhiên, Ngài đã cho phép họ ở lại bên cạnh Ngài và cố gắng nhẹ nhàng đưa họ đến với Ngài.”[20]

Song hành với quyền uy của các bề trên là sự vâng phục của các bạn đồng hành. Tôi sẽ không đi sâu vào vấn đề này bây giờ vì thiếu thời gian, vì đây là một chủ đề cần được giải thích kỹ hơn.

Các Hành động Bác ái

Bên cạnh đó, tôi muốn nhấn mạnh những hành động làm cho lòng bác ái trở nên sống động trong cộng đoàn và cho phép cộng đoàn được xây dựng—theo nghĩa kép của từ này. Thánh Vinh Sơn đã liệt kê điều đó trong Điều 12 của Luật chung mà tôi chắc chắn rằng tất cả các con đều nhớ. Vì vậy, tôi chỉ xin nhắc lại:

Hành vi bác ái đối với người lân cận phải luôn là tính cách của chúng ta. Vậy nên, chúng ta nên cố gắng: 1) cư xử với người khác theo cách mà chúng ta mong muốn được họ đối xử; 2) đồng thuận với người khác và chấp nhận mọi điều trong Chúa; 3) nhẫn nại với nhau mà không than phiền; 4) khóc với những người khóc; 5) vui mừng với những người vui mừng; 6) nhường nhịn nhau; 7) thành tâm giúp đỡ lẫn nhau.

Tìm kiếm điểm chung giữa chúng, tôi muốn nhấn mạnh 3 thái độ cơ bản: tôn trọng lẫn nhau, hạ mình và chịu đựng những yếu điểm của người lân cận.

Thực tế, yêu cầu đầu tiên của tình bác ái huynh đệ được liệt kê trong Luật chung là tôn trọng con người; sự tôn trọng không trái với sự thân mật. “Tình yêu, giống như tình yêu giữa anh em, phải luôn hiện diện giữa chúng ta như một mối dây thánh thiện, và những điều này phải được bảo vệ bằng mọi cách có thể. Vì lý do này, phải có sự tôn trọng lẫn nhau lớn lao….”[21]

Sự tôn trọng đó phải được thể hiện trong vô số chi tiết nhỏ như chào hỏi trước, tôn trọng sự riêng tư và không gian riêng tư — không ai được vào phòng ngủ của người khác mà không được mời — bỏ mũ trước mặt bề trên và các bạn đồng hành, không lấy đồ dùng của người khác hoặc của cộng đồng, v.v. Tôi vẫn nhớ sự ngạc nhiên khi lần đầu tiên tôi thấy Cha Canes, Giám đốc Nội chủng viện của tôi, trịnh trọng bỏ mũ beret mỗi khi gặp các chủng sinh trên cầu thang hoặc trong hành lang. Và điều này nên được mở rộng đến các vấn đề thiêng liêng như tôn trọng ý kiến và cách sống khác nhau của người khác, cố gắng nhìn nhận chúng một cách tích cực: “… anh em nên tập thói quen đánh giá các sự kiện và con người, luôn luôn và trong mọi hoàn cảnh, vì lợi ích của họ.”[22]Và tránh các cuộc thảo luận, tranh chấp và, trên hết, tránh cằn nhằn.

“Ôi! Tôi ước gì phong tục thánh thiện này luôn luôn phát triển mạnh mẽ giữa chúng ta! Để tán thành mọi điều; để có thể nói rằng có một Tu hội trong Giáo hội của Chúa luôn tuyên bố đoàn kết và không bao giờ nói xấu người vắng mặt; để có thể nói về Tu Hội Truyền Giáo rằng đó là một Cộng đoàn mà không ai chỉ trích anh em mình! Tôi chắc chắn sẽ coi trọng điều đó hơn tất cả các sứ mệnh, bài giảng, công việc cho các ứng viên chức sắc và tất cả những phước lành khác mà Chúa đã ban cho hội, bởi vì hình ảnh của Chúa Ba Ngôi Chí Thánh sẽ được khắc sâu hơn trong chúng ta.”[23]

Tinh thần nhượng bộ theo quan điểm của Thánh Vinh Sơn mang ý nghĩa sâu rộng, vì nó cần được áp dụng vào mọi hành động của tha nhân, ngoại trừ những điều liên quan đến tội lỗi và vi phạm các Quy luật Thánh.

“Tôi cầu xin Chúa, thưa cha, hãy tiếp tục ban cho cha tinh thần hiền hòa, thánh thiện, cũng như sự bao dung đối với bất cứ điều gì không phải là sự dữ hay trái với những quy luật nhỏ bé của chúng ta; bởi lẽ trong những trường hợp đó, sự hiền hòa lại trở thành sự tàn nhẫn. Tuy nhiên, để khắc phục chính những tình huống ấy, ta lại cần đến tinh thần dịu dàng.”[24]

Sự kiên nhẫn chịu đựng những khiếm khuyết của tha nhân là một hành động bác ái thường xuyên được Thánh Vinh Sơn đặc biệt nhấn mạnh. Ngài hiểu rõ, từ kinh nghiệm bản thân, rằng chính sự thiếu kiên nhẫn thường là trở ngại lớn nhất cần vượt qua khi thực hành đức bác ái trong đời sống cộng đoàn.

“Một trong những hành động bác ái chính yếu là biết chịu đựng tha nhân.” (Sđd., Thư 412, tr. 597.) “… đức bác ái, mà trong đó sự bao dung chịu đựng là một hành động cốt yếu; thật khó để hai người có thể hòa hợp nếu thiếu đi đức tính này. Trái lại, sự bao dung chính là mối dây tình bạn gắn kết các tâm hồn lại với nhau trong cả tình cảm lẫn hành động, không chỉ giữa họ với nhau mà còn trong Chúa, nhờ đó họ được hưởng sự bình an sâu sắc.”[25]

Thánh Vinh Sơn thừa nhận rằng đời sống cộng đoàn không hề dễ dàng. Tuy nhiên, Ngài tha thiết mong mỏi thấy đời sống ấy hiện diện trong Tu hội với trọn vẹn vẻ đẹp của nó, dù biết rằng điều này đòi hỏi nhiều hy sinh, chẳng hạn như việc từ bỏ ý riêng.

“Xin hãy loại bỏ khỏi nơi chúng con mọi hành động mang tính cá nhân, đi ngược lại nỗ lực chung. Nguyện xin cho chúng con chỉ có một trái tim làm nguồn sống và một linh hồn thôi thúc chúng con sống trong đức bác ái, nhờ vào quyền năng hiệp nhất và thần linh vốn tạo nên sự hiệp nhất các thánh.”[26]

Và nhờ đức tin cùng kinh nghiệm thực tế – hai nguồn hiểu biết của thánh nhân – Ngài thấu hiểu rằng tình bác ái huynh đệ và sự hiệp nhất thánh thiện, bên cạnh việc giúp chúng ta nên giống Ba Ngôi Thiên Chúa, sống như các tông đồ và các Kitô hữu sơ khai, cũng như hòa nhập vào sự hiệp thông các thánh (hoặc có lẽ chính nhờ tất cả những điều đó), sẽ biến mỗi ngôi nhà của chúng ta thành một thiên đường nhỏ, một sự nếm trải thiên đàng ngay tại trần gian.

Lm Phêrô Phạm Minh Triều, CM chuyển ngữ từ wiki.famvin.org/

[1] Coste XIIIa, Document 59, pp. 216-217.

[2] Op. cit., Document 61, p. 222.

[3] Op. cit., Document 60a, p. 220.

[4] Op. cit., Document 84a, p. 298.

[5] Ibid., p. 299.

[6] Conferences to the CM’s, Conference 195, p. 598.

[7] Coste IX, Conference 50, p. 457.

[8] Ibid,.

[9] Kempis, I, ch. 17.

[10] Op. cit., III, # 3.

[11] Conferences to the CM’s, Conference 206, p. 578.

[12] Coste IX, Conference 8, p. 44.

[13] Common Rules to the CM’s, VIII, # 1.

[14] Conferences to the CM’s, Conference 206, p. 572.

[15] Coste II, Letter 651, p. 413.

[16] Conferences to the CM’s, Conference 207, p. 583.

[17] La Comunidad en las Reglas Comunes, in Diez Estudios Vicencianos (Salamanca, Ceme, 1983).

[18] Coste V, Letter 1687, p. 59: “How important it is for those in authority to do nothing of consequence without consulting others.”

[19] Coste IV, Letter 1273, p. 103.

[20] Coste V, Letter 1676, p. 47.

[21] Common Rules to the CM’s, VIII, # 2.

[22] Coste II, Letter 799, p. 638.

[23] Conferences to the CM’s, Conference 95, p. 125.

[24] Coste I, Letter 209, p. 304.

[25] Coste VI, Letter 2110, p. 51.

[26] Conferences to the CM’s, Conference 206, p. 572.