Chúa nhật VI TN – Năm C
(Bài đọc I: Gr 17:5-8; Bài đọc II: 1 Cr 15:12,16-20; Tin Mừng: Lc 6:17,20-26)
Niềm hy vọng nơi Chúa
Chúng ta đang sống trong năm thánh Hy vọng. Tâm tình này được khơi lên cho toàn thể Giáo hội qua Đức Giáo hoàng Phanxicô, để chúng ta vững tâm khi đang ở trong một thế giới có quá nhiều điều khiến người ta mất đi niềm hy vọng. Trọng tâm của điều này là nếu chúng ta hy vọng, thì niềm hy vọng không làm chúng ta thất vọng, nhưng sẽ mang lại cho chúng ta niềm an ủi, chữa lành và bình an trong tâm hồn. Các bài đọc Lời Chúa hôm nay cũng chung tâm tình đó, để khích lệ chúng ta luôn đặt niềm hy vọng nơi Chúa.
Bài đọc thứ nhất trích từ sách Ngôn Sứ Giêrêmia (17:5-8), viết về cuối thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên, khi dân Do Thái sắp trở về Israel sau thời lưu đày ở Babylon. Họ không biết điều gì đang chờ đợi phía trước, họ đã mất tất cả, họ không có việc làm hay nhà ở, nơi nương tựa duy nhất của họ là tin cậy vào Chúa, rằng mọi việc sẽ diễn ra theo lời hứa của Ngài: “Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Đức Chúa, và có Đức Chúa làm chỗ nương thân” (Gr 17, 7). Những lời của ngôn sứ Giêrêmia cũng có thể áp dụng cho chúng ta ngày nay; không phải như một lời cảnh báo, mà như một liều thuốc mang lại niềm hy vọng.
Thánh Vịnh Đáp Ca là Thánh Vịnh (1:1-4,6). Đây là một thánh vịnh dành cho những ai đang đau buồn – dù đó là sự mất mát người thân, mất việc làm hay công việc kinh doanh. Tác giả của thánh vịnh này dường như đã hiểu ra tất cả, khi ông nói rằng: “Phúc thay ai trông cậy vào Chúa, lấy Chúa làm niềm hy vọng”. Tất nhiên, tất cả chúng ta đều biết rằng điều này không hề dễ dàng, nhưng nó thành công, vì đó là việc của Chúa và Ngài sẽ không làm chúng ta thất vọng. Cầu nguyện không phải là “cây đũa thần” và giống như một viên thuốc, cần có thời gian và sự tin tưởng.
Bài đọc thứ hai trích từ Thư thứ nhất của Thánh Phaolô gửi tín hữu Côrintô (15:12, 16-20). Lá thư này dường như có một chủ đề hoàn toàn khác, nhưng không phải vậy. Đây là lá thư khích lệ niềm hy vọng, nó dành cho những ai đang tìm kiếm (vào thời của Thánh Phaolô), người Do Thái đang tìm kiếm ý nghĩa và mục đích của cuộc sống. Người Do Thái giáo đã không trao điều đó cho họ và Thánh Phaolô đã nói về sự Phục sinh của Chúa Kitô là để cho mọi người thấy rằng, người đàn ông mà họ biết là “người Nazareth”, người mà các tông đồ đang rao giảng thực sự là Thiên Chúa. Và rằng Ngài có thể làm bất cứ điều gì nếu chúng ta tin cậy Ngài. Ngài là niềm hy vọng của chúng ta và là niềm hy vọng mang tính bền vững: “Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Ki-tô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người” (1 Cr 15, 19).
Bài đọc Tin Mừng trích từ Tin Mừng Thánh Luca (6:17, 20-26). Đoạn văn này thường được gọi là “bài giảng trên đồng bằng”, trái ngược với Bài giảng trên núi trong Tin Mừng Mátthêu. Nếu đọc hết bản văn này của Thánh Luca, chúng ta sẽ tìm thấy một thông điệp khác vì nó hướng đến khán giả dân ngoại của Luca. Trong đoạn văn này, chúng ta sẽ thấy mối liên hệ với chủ đề của chúng ta ở trên: mối liên hệ về lòng nhân từ và lòng trắc ẩn của Chúa.
Khi được gọi là bài giảng trên Núi trong Tin Mừng Mátthêu, chúng ta không thể bỏ qua ấn tượng rằng, Chúa Giêsu đang nói với uy quyền và giọng nói của Thiên Chúa. Ngọn núi là biểu tượng của sự gần gũi với Thiên Chúa. Những người lên núi nhìn thấy Chúa và nói thay Chúa, chẳng hạn nhớ lại câu chuyện về ông Môise và Mười Điều Răn. Trong khi đó, Tin mừng Luca giới thiệu địa điểm giảng dạy của Chúa Giêsu, Chúa Giêsu giảng dạy ở nơi bằng phẳng (đồng bằng), bên cạnh các môn đệ và đám đông. Tin mừng Luca muốn trình bày thẩm quyền của Chúa Giêsu dưới một ánh sáng khác: Ngài là Thiên Chúa ở giữa chúng ta. Ngài rất gần gũi với cuộc đời chúng ta, Ngài ở bên cạnh chúng ta và nói chuyện với chúng ta.
Một điểm khác biệt khác nữa được tìm thấy trong bản văn Luca là khán giả. Bài giảng trên đồng bằng của Thánh Luca được nói với các môn đệ của Chúa Giêsu, mặc dù trước sự chứng kiến của đám đông; Bài giảng trên núi của Thánh Mátthêu được gửi đến đám đông. Để phù hợp với phong cách này, các Mối Phúc trong Tin Mừng Thánh Luca nghe có vẻ cá nhân hơn các mối phúc trong Tin Mừng Thánh Mátthêu—Thánh Luca sử dụng mạo từ “bạn” trong khi Mátthêu sử dụng “họ” hoặc “những người đó”. Cũng có sự khác biệt về số lượng: Thánh Mátthêu mô tả tám mối phúc; trong khi đó Thánh Luca chỉ trình bày bốn điều, mỗi điều đều có một lời cảnh báo song song.
Rõ ràng những điều Chúa Giêsu liệt kê hôm nay xem ra không mấy khả quan theo con mắt người đời: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó,…..Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói,….Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc……” (Lc 6, 20-21). Nhưng đó lại là những mối phúc đối với những ai tin cậy nơi sự quan phong của Thiên Chúa. Đó chính là những dấu chỉ để có niềm hy vọng. Điều quan trọng là kiên nhẫn đón nhận và hy vọng, thì rồi Thiên Chúa sẽ khỏa lấp tất cả những ước vọng sâu thẳm đó trong tầm hồn con người. Nếu không có niềm hy vọng, tất cả điều này sẽ trở thành những điều bất hạnh trong cuộc sống của mỗi người chúng ta.
Người ta có lý do để hy vọng và sống mối phúc đó, vì chính Chúa đã giới thiệu điều ấy cho các môn đệ của Ngài. Sự hiện diện của Ngài ở giữa các ông là dấu chứng của niềm hy vọng. Sự thật về các mối phúc và của Tin Mừng chính là niềm hy vọng của mỗi người chúng ta. Nó giúp chúng ta đứng vững trong cuộc đời này với biết bao nhiêu biến động của cuộc sống.
Trong đời sống đức tin, chính niềm tin nơi Thiên Chúa là niềm hy vọng của chúng ta. Khi nói về điều này này, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã từng nói: “Tin Mừng này mời gọi chúng ta suy ngẫm về ý nghĩa sâu sắc của việc có đức tin, hệ tại ở việc chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào Chúa. Đó là việc phá hủy các thần tượng trần thế để mở lòng chúng ta ra với Thiên Chúa chân thật và hằng sống.” Vì chỉ có Ngài mới có thể đảm bảo mang lại những nhu cầu sâu thẳm và vĩnh cửu trong đới sống thiêng liêng của mỗi người chúng ta.
Đó chính là niềm hy vọng của chúng ta. Niềm hy vọng được bắt nguồn từ Thiên Chúa, đấng luôn trung tin trong kế hoạc cứu độ của Ngài và luôn thực hiện lời hứa cứu độ dành cho mỗi người chúng ta.
Lm Phêrô Phạm Minh Triều, CM
