Mẫu gương truyền giáo của Thánh John Gabriel Perboyre

Gia đình Vinh Sơn luôn tự hào về những người con thánh thiện của mình. Trong số đó, có những người thể hiện cuộc đời mình bằng cách sống trọn vẹn linh đạo Vinh Sơn, noi gương Đấng Sáng Lập. Họ sống tinh thần bác ái và hoàn tất sứ mạng truyền giáo bằng cách hiến dâng bản thân cho tha nhân và Thiên Chúa. Một trong những minh chứng cao quý cho điều đó chính là sự tử đạo. Tử đạo là hình thức thể hiện cuộc sống bác ái vì tha nhân và Thiên Chúa thông qua đời sống đức tin. Đó cũng là cuộc đời phản chiếu hình ảnh người môn đệ theo chân Đức Kitô – Đấng sẵn sàng hy sinh mạng sống vì đoàn chiên. Một trong những người con ưu tú của Tu hội là Thánh John Gabriel Perboyre; ngài đã dành trọn cuộc đời cho công cuộc truyền giáo tại Trung Quốc vào thế kỷ 19 và hy sinh mạng sống để làm chứng cho Tin Mừng tại vùng đất này.
Thánh John Gabriel Perboyre sinh ngày 6 tháng 1 năm 1802 tại Montgesty, gần Cahors (miền Nam nước Pháp), trong một gia đình đã dâng hiến cho Giáo hội ba nhà truyền giáo trong Tu Hội Truyền Giáo và hai Nữ Tử Bác Ái. Đó là thời điểm các hoạt động truyền giáo của Giáo hội đang diễn ra sôi nổi trên khắp thế giới. Nhiều vùng đất mới ngoài châu Âu được tiếp cận Tin Mừng thông qua các hoạt động giao thương, và sứ mạng loan báo Tin Mừng cũng được đẩy mạnh trong lòng Giáo hội. Trong giai đoạn này, các phong trào truyền giáo trong Tu hội phát triển mạnh mẽ. Nhiều người đã gia nhập Tu hội và sẵn sàng dâng hiến cuộc đời cho công cuộc loan báo Tin Mừng – trong đó có John Gabriel Perboyre – đặc biệt là hướng về khu vực Đông Á, dù các anh em Vinh Sơn đã hiện diện tại Trung Quốc từ lâu. Thánh Perboyre luôn giữ vững ngọn lửa nhiệt thành truyền giáo và sẵn sàng lên đường, bất chấp việc biết rõ tình trạng bách hại đức tin đang diễn ra tại Trung Quốc. Tuy nhiên, điều đó không làm ngài nản lòng hay từ bỏ sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho người dân. Sự kiện này minh chứng cho lòng kiên định của John Gabriel trong sứ mạng loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa với tư cách là một nhà truyền giáo thuộc Tu Hội Truyền Giáo.
Lòng nhiệt thành truyền giáo đã nhen nhóm trong trái tim Perboyre ngay từ khi ngài còn theo học tại chủng viện. Nhiều lần chứng kiến các anh em cùng dòng được chọn đi truyền giáo tại Trung Hoa, ngài cảm thấy vô cùng vinh dự, tự hào và cũng hằng mong ước được chọn cho sứ mạng ấy. Qua cuộc đời Thánh Gioan Gabriel Perboyre, ta thấy được những nét nổi bật làm gương mẫu cho đời sống của các anh em Vinh Sơn. Vào tháng 2 năm 1835, ngài đã đạt được nguyện vọng khi được bổ nhiệm đến Trung Hoa; ngài liền báo tin cho người chú của mình: “Cháu có một tin rất vui muốn chia sẻ với chú. Thiên Chúa vừa ban cho cháu một ân huệ vô cùng quý giá mà chắc chắn cháu không hề xứng đáng lãnh nhận. Khi Chúa thương ban ơn gọi linh mục, lý do chính khiến cháu đáp lại tiếng gọi của Ngài là niềm hy vọng được rao giảng Tin Mừng cứu độ cho những người chưa biết Chúa. Kể từ đó, cháu chưa bao giờ đánh mất mục tiêu này, và hơn hết, ý nghĩ về sứ mạng tại Trung Hoa luôn khiến tim cháu đập rộn ràng. Thưa chú kính mến, cuối cùng thì hôm nay những lời cầu nguyện của cháu đã được nhậm lời. Cháu nhận được tin bổ nhiệm đi Trung Hoa đúng vào ngày lễ Dâng Chúa Giêsu vào Đền Thánh; điều này khiến cháu tin rằng mình mang ơn Đức Trinh Nữ Rất Thánh rất nhiều trong sự kiện này (Thư số 56).”[1]
Những khát vọng trong lòng Gioan Gabriel đã được thỏa nguyện nhờ sự quan phòng của Thiên Chúa. Và có lẽ, đây cũng chính là bước khởi đầu để ngài dấn thân vào con đường nên thánh và lãnh nhận hồng ân tử đạo.
Cuộc đời gắn liền với việc học tập
Một tấm gương sáng ngời đầu tiên chính là tinh thần học tập nghiêm túc của Thánh John Gabriel Perboyre. Ngài là tấm gương cho tất cả các chủng sinh Vinh Sơn về việc đào tạo tại chủng viện. Không chỉ nhờ trí thông minh và sự sáng suốt sẵn có, mà chính nhờ sự cần cù cùng ý thức sâu sắc về sứ mạng tương lai, ngài đã luôn nỗ lực không ngừng. Điều này đã được Đức Giám mục Jean-Henri Baldus (thuộc Tu hội Truyền giáo – CM) ghi nhận: “Tôi luôn coi ngài là người rất thông minh, có tư duy sâu sắc, đủ khả năng giải quyết bất kỳ vấn đề nào thuộc lĩnh vực khoa học, triết học hay văn học; tôi nghĩ rằng hiếm có người anh em nào cùng thời sánh kịp ngài về những phương diện này, kể cả Đức Giám mục Rameaux – dù vị này có danh tiếng lẫy lừng hơn trong mắt người Trung Hoa, nhưng họ lại là những người đánh giá năng lực rất kém.”[2] Thánh John Gabriel Perboyre không chỉ thể hiện tinh thần này khi còn ở chủng viện; ngay cả sau này khi sang truyền giáo tại Trung Quốc, ngài vẫn miệt mài học hỏi ngôn ngữ và văn hóa bản địa để chuẩn bị chu đáo cho sứ mạng tại đó. Ngài từng chia sẻ với một người anh em cùng dòng: “Nếu lúc này anh có thể nhìn thấy tôi, hẳn anh sẽ thấy một hình ảnh thú vị: tôi mặc trang phục Trung Hoa, cạo trọc đầu, để tóc tết dài và để ria mép; tôi nói thứ ngôn ngữ mới một cách ngọng nghịu và dùng đũa để ăn – thứ thay thế cho cả dao, thìa và nĩa. Người ta bảo rằng trông tôi cũng ra dáng một người Trung Hoa đấy chứ.”[3]
Việc học tập để phục vụ sứ mạng truyền giáo là điều vô cùng quan trọng. Nó giúp các nhà truyền giáo mở rộng tầm nhìn và cởi mở đón nhận cái mới, từ đó làm phong phú thêm kiến thức và điều chỉnh nhãn quan cho phù hợp với thực tế tại nơi họ được mời gọi dấn thân. Đó cũng chính là biểu hiện tinh thần tử đạo của người truyền giáo: dám dấn thân vào những môi trường đầy thử thách, dám từ bỏ những dự tính cá nhân để sống và đáp ứng những mong mỏi, chờ đợi của người dân bản địa. Ngày nay, Tu hội đang kêu gọi các anh em Vinh Sơn tại các Tỉnh Dòng tham gia vào công cuộc truyền giáo ở nước ngoài. Đây chính là tinh thần linh đạo của Tu Hội Truyền Giáo. Tinh thần này đòi hỏi các anh em Vinh Sơn phải thực sự dấn thân cho sứ mạng, trong đó bao gồm việc tìm hiểu ngôn ngữ và văn hóa tại nơi mình được sai đến. Đây là một công việc thiết yếu và quan trọng trong sứ mạng truyền giáo; nếu thiếu đi những yếu tố này, công cuộc truyền giáo sẽ khó thành công hoặc thậm chí không mang lại kết quả nào. Chính vì vậy, các sứ mạng quốc tế mà các thành viên Vinh Sơn đảm nhận đòi hỏi họ phải không ngừng học hỏi về ngôn ngữ và văn hóa tại nơi họ được sai đến.
Hình mẫu người giáo lý viên
Trong công cuộc truyền giáo tại Trung Quốc, Thánh John Gabriel không chỉ sống trọn vẹn hình ảnh một nhà truyền giáo Vinh Sơn mà còn là một giáo lý viên gương mẫu. Ngài luôn tỉnh thức để nói về Thiên Chúa, không phải qua những bài giảng hùng hồn, mà bằng những bài giáo lý giúp dân chúng hiểu biết về Người. Tử đạo, xét cho cùng, chính là làm chứng cho Thiên Chúa và Tin Mừng của Người. Việc làm chứng bằng cả lời nói và hành động là hai khía cạnh giúp người giáo lý viên truyền tải bài học một cách sống động và hiệu quả đến người nghe. Thánh John Gabriel Perboyre đã làm chứng và loan báo Tin Mừng với tư cách là một giáo lý viên ngay trong bối cảnh bị bách hại và cấm đoán hoạt động truyền giáo. Ngài đã khôn ngoan phối hợp với người bản xứ để thực thi vai trò này, nhờ đó không bỏ lỡ cơ hội rao giảng Tin Mừng dù hoàn cảnh chưa cho phép thực hiện công khai. Những gian nan và bách hại ấy chính là minh chứng hùng hồn cho cuộc khổ nạn của Chúa, cũng là mầu nhiệm Thập Giá mà chúng ta loan báo: “Được đồng hóa với Đức Giêsu Kitô cũng có nghĩa là chia sẻ số phận của Người: “Thầy ở đâu, thì kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó’ (Ga 12, 26). Số phận của người Kitô hữu cũng giống như số phận của Chúa, kể cả việc vác thập giá: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mc 8,34). Chúng ta được khích lệ bởi chứng tá của biết bao nhà truyền giáo và các vị tử đạo – cả xưa và nay – giữa lòng dân tộc chúng ta; họ đã sẵn sàng chia sẻ thập giá của Đức Ki-tô và thậm chí hiến dâng cả mạng sống mình” (Tài liệu Aparecida, số 140).
Chính Thánh Vinh Sơn Phaolô cũng nói với chúng ta về sự tử đạo thể hiện qua việc làm chứng mỗi ngày cho Thiên Chúa, Đấng đã hiến dâng mạng sống vì chúng ta: “Có điều gì hợp lý hơn việc hiến dâng mạng sống cho Đấng đã quảng đại hiến dâng mạng sống vì mỗi người chúng ta? Và nếu Chúa chúng ta yêu thương ta đến mức chịu chết vì ta, tại sao ta lại không mong muốn có cùng tâm thế ấy đối với Ngài và thực hiện điều đó nếu có dịp?” (CCD XI, 335). Thánh John Gabriel Perboyre mô tả sinh động sứ vụ của mình tại vùng truyền giáo trên cương vị mục tử và người dạy giáo lý: “Mỗi ngày, không chỉ nhiều thiếu nữ và phụ nữ đạo hạnh mà cả nhiều người cha trong gia đình cũng thường xuyên tham dự Thánh lễ; và nếu họ muốn cầu mưa hay thời tiết thuận hòa, đám đông vẫn tiếp tục tụ họp và ngày càng đông hơn cho đến khi đạt được điều họ mong ước. Đặc biệt vào các ngày Chúa nhật và ngày lễ, đoàn chiên thường vây quanh vị mục tử. Từ sáng sớm đến cuối ngày, nhà thờ của chúng tôi luôn chật kín người. Ban đầu, họ cùng nhau đọc kinh sáng, kinh lễ và một phần giáo lý; sau đó là Thánh lễ, bài giảng và lớp giáo lý cho trẻ em; kế đến, ai muốn thì có thể ra về, còn một số người ở lại hoặc quay lại để đọc phần đầu của Kinh Mân Côi [ý ngài là năm mầu nhiệm], kết thúc buổi chiều. Buổi tối dành cho việc suy niệm Đàng Thánh Giá, các buổi cầu nguyện của các hội đoàn và một bài chia sẻ giáo lý. Một tuần trước đó, họ chọn một chủ đề, chẳng hạn như một nhân đức hay bổn phận nào đó. Khi ngày Chúa nhật đến, có khoảng hơn mười diễn giả lần lượt lên giảng về chủ đề đã chọn; họ là những thanh niên trí thức, giáo lý viên hoặc những Kitô hữu thông thái khác.”[4]
Các nhà truyền giáo Vinh Sơn cũng được mời gọi dấn thân vào những hoàn cảnh khó khăn để làm chứng cho Tin Mừng. Đây là một sứ mạng quan trọng nhằm giúp mọi người nhận biết tình yêu Thiên Chúa và đón nhận Tin Mừng. Đừng bỏ lỡ bất kỳ cơ hội nào để nói về Thiên Chúa và làm chứng cho Tin Mừng trong các công cuộc truyền giáo mà anh em thực hiện, đúng như lời Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã dạy: “Về phần mình, hỡi các linh mục, đây là cánh đồng mà anh em là những cộng sự viên trực tiếp của các Giám mục. Công đồng đã gọi anh em là những ‘người hướng dẫn đức tin’; không có cách nào tốt hơn để thực hiện vai trò đó ngoài việc dốc toàn lực cho sự tăng trưởng đức tin của cộng đoàn. Dù anh em phụ trách giáo xứ, làm tuyên úy tại các trường tiểu học, trung học hay đại học, đảm trách công việc mục vụ ở bất kỳ cấp độ nào, hay lãnh đạo các cộng đoàn lớn nhỏ, đặc biệt là các nhóm giới trẻ, Giáo hội mong đợi anh em không lơ là bất cứ điều gì để công cuộc giáo lý được tổ chức và định hướng một cách chu đáo. Các phó tế và những người cộng sự khác cùng làm việc với anh em chính là những người hỗ trợ đắc lực trong công việc này. Mọi tín hữu đều có quyền được học hỏi giáo lý; mọi mục tử đều có bổn phận cung cấp việc giáo dục ấy. Tôi sẽ luôn kêu gọi các nhà lãnh đạo dân sự tôn trọng quyền tự do giảng dạy giáo lý; nhưng tôi tha thiết nài xin anh em, những thừa tác viên của Chúa Giêsu Kitô bằng tất cả tâm huyết: Đừng vì thiếu nhiệt tâm hay vì những định kiến sai lầm mà để các tín hữu thiếu vắng việc học hỏi giáo lý. Đừng để người ta phải nói rằng: ‘Trẻ thơ xin bánh, mà chẳng ai bẻ bánh cho chúng’.”[5]
Hội nhập văn hóa trong sứ vụ truyền giáo
Thánh Gioan Gabriel Perboyre là người tiên phong trong Giáo hội về tấm gương hội nhập văn hóa trong công cuộc loan báo Tin Mừng. Trong lịch sử Giáo hội, việc hội nhập văn hóa trong sứ vụ truyền giáo đã không được quan tâm và thấu hiểu đúng mức ngay từ đầu; do đó, những điều đáng tiếc đã xảy ra trong quá trình truyền giáo. Vấn đề hội nhập văn hóa chỉ thực sự được đề cập một cách chính thức và đúng đắn sau Công đồng Vatican II. Chính Công đồng, trong sắc lệnh về truyền giáo, đã nói đến tầm quan trọng của việc hội nhập văn hóa như Hiến chế Gaudium et Spes (Vui mừng và Hy vọng) đã diễn tả: “Giáo hội được sai đến với mọi dân tộc thuộc mọi thời đại và mọi nơi, không bị ràng buộc độc quyền vào bất kỳ chủng tộc hay quốc gia nào, cũng không gắn liền với bất kỳ lối sống hay tập quán sinh hoạt cụ thể nào, dù là cổ xưa hay hiện đại. Vừa trung thành với truyền thống của mình, vừa ý thức về sứ mạng phổ quát, Giáo hội có thể hiệp thông với các hình thức văn hóa khác nhau, để làm phong phú cho chính mình và cho cả các nền văn hóa ấy” (Gaudium et Spes, số 58). Tiến trình này cũng được diễn tả trong sắc lệnh Ad Gentes (Đến với muôn dân): “Việc Chúa Kitô nhập thể là khuôn mẫu cho các Giáo hội non trẻ; sắc lệnh nhấn mạnh rằng nếu Giáo hội muốn ở vị thế có thể trao ban mầu nhiệm cứu độ và sự sống do Thiên Chúa ban tặng cho mọi người, thì Giáo hội phải cắm rễ sâu vào giữa các dân tộc, cũng như Chúa Kitô, qua việc nhập thể, đã gắn bó với hoàn cảnh xã hội và văn hóa cụ thể của những người mà Ngài đã sống cùng” (Ad Gentes, số 10, và 22).
Từ hai khía cạnh này, ta thấy Thánh Gioan Gabriel Perboyre đã sống tinh thần ngôn sứ trong việc loan báo Tin Mừng ngay từ khi đặt chân lên đất Trung Hoa và bắt đầu sứ vụ của mình. Ngài thực sự yêu mến con người và văn hóa nơi đây, đón nhận chúng bằng trọn vẹn tình yêu của một nhà truyền giáo. Thánh Gioan Gabriel yêu mến văn hóa Trung Hoa và chọn sống hòa nhập với đời sống của người dân bản địa: để tóc tết đuôi sam, mặc trang phục truyền thống, sử dụng đũa khi ăn uống… đây là một trong những nét nổi bật làm nên con người và phong cách hội nhập văn hóa của ngài trong sứ vụ truyền giáo. Các nhà truyền giáo thuộc Tu Hội Truyền Giáo Vinh Sơn cũng cần học hỏi điều này từ Thánh Gabriel Perboyre. Mỗi người cần biết gác lại văn hóa của riêng mình để thích nghi với văn hóa của người khác, nhờ đó có thể diễn tả Tin Mừng một cách hiệu quả nhất trong bối cảnh văn hóa của họ.
Cụ thể là, trong Tu hội, điều này có thể diễn ra thông qua việc thay đổi tầm nhìn hay sự “chuyển dịch chân trời” và qua các yếu tố then chốt mà Cha Jan, CM đã phân tích: “các đặc điểm chính của tiến trình hội nhập văn hóa là: xuất phát từ bên trong; diễn ra ở mọi cấp độ; mang tính liên tục; và mang lại sự phong phú.”[6]
Đời sống cầu nguyện
Ngài rất yêu thích việc đến chầu Thánh Thể và cầu nguyện. Khi đang cầu nguyện, ngài chăm chú đến mức “người ta có thể bước qua ngay bên cạnh mà ngài cũng chẳng hay biết gì.” Ảnh hưởng từ gia đình và thói quen cầu nguyện từ thuở nhỏ đã cho thấy ngài là người “yêu thương người nghèo và thường dành phần bánh của mình cho những người ăn xin lang thang.” Toàn bộ cuộc đời Thánh Gioan-Gabriel là minh chứng cho tình yêu hy sinh, noi gương Chúa Giêsu, Đấng đã “nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,7-8). Một giáo sư tại Saint-Flour từng nói: “Khi chiêm ngắm cuộc đời ngài, tôi tin chắc rằng Thiên Chúa đã nhậm lời ngài. Trái tim ngài chỉ sống nhờ Chúa Giêsu Kitô và vì Chúa Giêsu Kitô. Câu nói của Thánh Gioan Kim Khẩu về Thánh Phaolô—Cor Christi, cor Pauli (Trái tim Chúa Kitô là trái tim Phaolô) cũng hoàn toàn đúng với ngài. Nhìn ngài, tôi ngỡ như đang nhìn thấy chính Chúa của chúng ta vậy…”[7]
Như vậy, cuộc đời của Thánh Gioan Gabriel Perboyre là một cuộc đời cầu nguyện sâu sắc, đặc biệt là trong mọi biến cố của cuộc sống. Chắc chắn điều này bắt nguồn sâu xa từ truyền thống Vinh Sơn, vốn luôn đề cao tinh thần cầu nguyện và đời sống nội tâm. Các nhà truyền giáo Vinh Sơn vẫn luôn được mời gọi sống tinh thần này nơi cánh đồng truyền giáo. Nếu thiếu vắng chiều kích này, sứ vụ truyền giáo khó có thể thành công và duy trì lâu dài; bởi lẽ, như Thánh Vinh Sơn từng nói: “Hãy cho tôi một người biết cầu nguyện, và người ấy sẽ có thể làm được mọi sự. Người ấy có thể thốt lên cùng vị Tông đồ rằng: ‘Tôi có thể làm được mọi sự nhờ Đấng ban sức mạnh cho tôi’. Tu hội sẽ trường tồn chừng nào còn trung thành thực hành việc cầu nguyện; đó là thành trì kiên cố che chở các nhà truyền giáo khỏi mọi hình thức tấn công.”[8]
Kết luận
Cuộc đời Thánh Gioan Gabriel Perboyre đã được lãnh nhận hồng ân tử đạo. Ngài đã sống và làm chứng cho Tin Mừng giữa một nền văn hóa mới mẻ và đầy thử thách, nhưng vẫn sống trọn vẹn ơn gọi truyền giáo theo tinh thần đặc sủng Vinh Sơn một cách tuyệt vời. Tấm gương của ngài là mẫu mực cho chúng ta cũng như cho tất cả các nhà truyền giáo Vinh Sơn thuộc mọi thế hệ tiếp bước ngài. Hy vọng rằng, gương tử đạo của ngài sẽ là minh chứng hùng hồn cho lòng nhiệt thành loan báo Tin Mừng mà ngài hằng ấp ủ khi còn ở trong Tu hội. Tuy nhiên, tất cả những điều đó đều bắt nguồn từ một đời sống nội tâm sâu sắc và việc đặt Đức Kitô làm trung tâm của cuộc đời mình.
(Lễ Thánh Gioan Gabriel Perboyre 2026)
Lm Phêrô Phạm Minh Triều, CM
[1] Thomas Davitt, “John Gabriel Perboyre,” Colloque (Tỉnh dòng Ailen), no. 6. https://vincentians.com/en/john-gabriel-perboyre/ và Ducourneau, Jean-Yves, “The Martyrdom of St. John Gabriel Perboyre,” Vincentian Vol. 46: No. 6: (2002), Article 15. Cập nhật tại https://via.library.depaul.edu/vincentiana/vol46/iss6/15.; Carmen Urrizburu, Vincentian Spirituality: Martyrdom, tại ttps://vincentians.com/en/vincentian-spirituality-martyrdom/.
[2] Đây là lá thư đã được trích dẫn ở trên. Francois-Alexis Rameaux (thuộc Tu Hội Truyền Giáo Vinh Sơn – CM) kém hơn thánh nhân bốn tuổi; ông thụ phong linh mục năm 1826, sang Trung Quốc năm 1832, được tấn phong giám mục năm 1840 và qua đời năm 1842 (xem CM Archives, Paris); Quevedo, Álvaro, “Jesus Christ in the Life of John Gabriel Perboyre,” Vincentiana Vol. 46: No.6:(2002). Article 16. Cập nhật tại: https://via.library.depaul.edu/vincentiana/vol46/iss6/16
[3] CM Archives, Paris, Lettter 71. Xem Thomas Davitt, “John Gabriel Perboyre,” Colloque, no. 6, cập nhật tại https://vincentians.com/en/john-gabriel-perboyre/.
[4] Unknown, St. John Gabriel Perboyre cm, China’s First Canonized Saint, cập nhật tại http://www.catholictradition.org/Saints/saints-special4.htm và Vinícius Augusto Ribeiro Teixeira, A Vincentian Reflection on Martyrdom, cập nhật tại https://vinformation.org/en/ebooks-index/ebook-vincentian-reflection-martyrdom/.
[5] John Paul II, Apostolic Exhortation Catechesi Tradendae on Catechesis in our Time, # 62.
[6] Jan W.M Ermers., “Inculturation and the Vincentian Charisma: An Overview,” Vincentiana Vol. 40: No. 4:(1996), Article 6, cập nhật tại: https://via.library.depaul.edu/vincentiana/vol40/iss4/6.
[7] Álvaro Quevedo , “Jesus Christ in the Life of John Gabriel Perboyre,” Vincentiana Vol. 46: No. 6: (2002), Article 16, cập nhật tại : https://via.library.depaul.edu/vincentiana/vol46/iss6/16 và Mario Murgia, Martyrdom for Charity, bản pdf.
[8] SV XI, 83; cf. III, 539; IX, 416; X, 583.
