Những yêu cầu và tiêu chí mục vụ mà bác ái và truyền giáo trình bày cho chúng ta ngày nay

Đăng ngày: 02/07/2021
Danh mục: 2. CHIA SẺ

Celestino Fernández, CM

Tôi thừa nhận rằng, bản thân tôi có những cảm thức đặc thù khi phát triển đề tài về bác ái và truyền giáo này. Một mặt, đây là đề tài vừa đơn giản, vừa rõ ràng, mà có thể được tiếp thu bởi bất kỳ ai, cho dù người ấy có rất ít liên hệ với Tin Mừng và tinh thần đoàn sủng Vinh Sơn.

Chúng ta đối diện với hai từ khóa liên quan đến sự hiện hữu của mình, cũng như hoạt động Kitô giáo và Vinh Sơn của chúng ta. Điều này cũng đủ để gợi nhớ về sự thật rằng, đức ái hay lòng mến đã không chỉ là chủ đề của nhiều nghiên cứu, mà còn định nghĩa một thực tại về Thiên Chúa: Thiên Chúa là tình yêu (1 Ga 4,8). Chính tình yêu gói gọn kế hoạch của Thiên Chúa dành cho con người: Ta ban cho các con một điều răn mới, đó là các con hãy yêu thương nhau (Ga 13,34) và sứ vụ của chúng ta được xác quyết, bởi lòng tận tụy và phục vụ bác ái: Khi ta đói các ngươi đã cho ta ăn (Mt 25, 31-46). Và chúng ta nên nhớ rằng, truyền giáo là công việc của Đức Giêsu Nazarét, điều mà làm rõ thực tại của Giáo Hội, đồng thời định hình ơn gọi Kitô hữu, lẫn ơn gọi Vinh Sơn của chúng ta.

Nếu truy tìm những giải thích sâu xa hơn, chúng ta chỉ có thể suy tư về trải nghiệm của riêng chúng ta về các hàm ý, sự thể hiện và cam kết mà truyền giáo và bác ái liên quan. Nếu muốn tiến xa hơn nữa, chúng ta có thể dành thời giờ xem xét những công việc và hoạt động, những bận tâm và chứng từ về những ngành riêng biệt trong gia đình Vinh Sơn…. trong những giai đoạn lịch sử khác nhau, chúng ta có thể ngẫm đến nhiều cách thức mà gia đình Vinh Sơn đã yêu thương và phục vụ những con người nghèo khổ và sống bên lề xã hội.

Cũng như thế, chúng ta nên nhận ra rằng, chủ đề này cũng không dễ dàng gì. Tính cụ thể hóa của bác ái thể hiện chính nó nơi hàng ngàn cách mục vụ, mà đôi lúc thì nhất quán và những lúc khác thì mâu thuẫn. Điều này xảy ra vì vô tình hay hữu ý, vì chúng ta là những đứa con của lịch sử, đã sống bác ái và truyền giáo bằng nhiều cách đặc biệt lẫn khác biệt. Chúng ta cũng thừa nhận đến vấn đề rằng, chúng ta sống trong một tình cảnh văn hóa, xã hội cực kỳ mang tính ý thức hệ, một tình cảnh mà nơi đó bác ái và truyền giáo có thể rơi vào cạm bẫy ý thức hệ chính trị, xã hội hay kinh tế. Nếu chúng ta thêm vào điều này sự thật rằng, chủ đề này, vì nó rất thiết yếu, có thể được xem xét ở góc độ phổ quát và chung nhất, thì tính phức tạp và trừu tượng của nó đều trở nên rõ ràng hơn.

Để trút bỏ gánh nặng lương tâm này, tôi sẽ giới hạn bản thân mình để nói trong bối cảnh Vinh Sơn. Tôi làm như vậy, vì tôi thấy thoải mái hơn và khai triển vấn đề dễ dàng hơn trong môi trường này. Tôi còn thực hiện điều này là vì chúng ta sẽ tham dự vào một hội thảo đặc nét Vinh Sơn. Hôm qua, chủ đề này đã được xem xét từ những khía cạnh khác và điều này đã giải phóng tôi khỏi ham muốn cố gắng chia sẻ loạt bài học này, hay danh mục những điều mà chúng ta nên làm. Thật vậy, những yêu cầu và những yếu tố mục vụ đưa ra sự nhấn mạnh, mà tôi sẽ trình bày một loạt những quy tắc hay những đường hướng hoạt động mà ít hay nhiều không sai lạc được… lại nữa, tôi mong những suy ngẫm của mình sẽ trở thành nguồn trợ lực và lời mời gọi để đọc và suy ngẫm di sản của các Đấng Sáng Lập của chúng ta.

Khởi Điểm: Cấu Trúc Diakonia (Phục Vụ) Của Đoàn Sủng Vinh Sơn

Chúng ta bắt đầu với điều gì đó, mà ngay đầu tiên có vẻ là vô dụng hay thích hợp với những cuộc tranh luận không hồi kết, về những từ hoặc các thuật ngữ mà triết học kinh viện có liên quan đến. Nhưng điều này quan trọng. Chúng ta có khuynh hướng xem bác ái và truyền giáo như hai thực tại đặc thù chính yếu. Trong bất kể sách thần học nào cũng như trong nhiều bài viết về Vinh Sơn, một chương được cống hiến cho một cuộc bàn luận về bác ái và chương khác tập trung vào thảo luận vấn đề truyền giáo. Điều này được thấy rõ như được tin rằng thánh Vinh Sơn Phaolô đã thành lập hai Tu Hội: một Tu hội dành cho việc truyền giáo (để rao giảng Lời Chúa qua việc rao giảng) và Tu hội còn lại dành cho bác ái (điều phối việc phục vụ).

Tuy nhiên, các Đấng Sáng Lập bày tỏ rõ ràng rằng, bác ái và truyền giáo là hai thực tại bất khả phân li, mặc dù chúng không biến mất trong nhau. Bác ái không chỉ nuôi dưỡng, cũng như thúc đẩy truyền giáo, và truyền giáo không chỉ biểu lộ và cụ thể hóa bác ái, mà cả hai thực tại này quá nhất quán với nhau, đến nỗi chúng cấu thành cùng một thực tại.

Vì vậy, chúng ta có thể giải thích đoàn sủng Vinh Sơn như một nguyên tắc hướng dẫn giải thích những gì chúng ta đã nói. Ở đây tôi đề cập đến một cấu trúc — mặc dù một số chuyên viên trong lĩnh vực linh đạo nói rằng một đặc sủng không thể được cơ cấu — một cấu trúc có thể được gọi là cấu trúc của diakonia (phục vụ). Với cách diễn đạt này, tôi muốn nói đến bác ái, đến việc phục vụ bác ái, đến sứ vụ của bác ái, đến diakonia theo nguyên nghĩa của nó về lòng phục vụ tận tình. Điều tồn tại trong phục vụ chính là sự nhất quán hoàn hảo của bác ái, hiệp thông, phục vụ, sứ vụ, sự hiến thân hoàn toàn.

Tất cả những hành động, suy nghĩ, trực giác và thái độ của thánh Vinh Sơn Phaolô và Louise de Marillac đều được thúc bách và tập trung vào bác ái như truyền giáo và truyền giáo như bác ái. Lối sống của các ngài và những lời khuyến dụ liên lỉ của hai đấng đối với những con trai và con gái của mình là những lời cổ võ để sống trong tình trạng bác ái này. Hơn nữa, sự hoàn hảo Kitô giáo mà những ai bước theo các ngài nên khao khát, là sự hoàn hảo của lòng bác ái. Điều phân biệt giữa các con trai và con gái của các ngài, với các tu sĩ nam nữ khác chính là việc họ sống quy tụ với nhau trong tình trạng bác ái này và việc mục vụ của họ bám rễ từ sự toàn hảo của bác ái.

Trong buổi đàm luận nổi tiếng của ngài vào ngày 30 tháng 5 năm 1659 với các linh mục Truyền giáo, buổi đàm luận liên quan đến lòng bác ái, thánh Vinh Sơn đã kết thúc bằng lời nguyện này, như bản tóm tắt của buổi đàm luận lâu giờ đó: “Lạy Chúa, cảm tạ Chúa đã kêu gọi chúng con đến lối sống này và không ngừng yêu thương người lân cận của chúng con, thật vậy, chúng con được mời gọi đến với tình yêu này theo lối sống và sự tuyên hứa, thực sự thực hành nó hoặc định làm như vậy, thậm chí đến mức bỏ mọi nghề nghiệp khác để tham gia vào các công việc bác ái. Tu sĩ được cho là một lối sống hoàn thiện; chúng con không phải tu sĩ, nhưng chúng con có thể nói rằng, chúng con đang ở trong đời sống bác ái, bởi vì chúng con thường xuyên dấn thân vào việc thực hành tình yêu thương thực sự hoặc có ý hướng làm như vậy” (CCD XII, 224). Chúng ta cũng có một ví dụ khác trong lá thư mà thánh Vinh Sơn viết cho một linh mục Truyền giáo, một lá thư trong đó ngài tha thiết khích lệ vị linh mục: “Nếu sự toàn hảo của chúng ta nằm ở lòng bác ái, chắc chắn, không có gì vĩ đại hơn là hiến thân để cứu rỗi các linh hồn và hy sinh chính mình cho họ như Đức Giêsu Kitô đã làm” (CCD VII, 356).

Hoặc chúng ta có thể xem xét những lời của ngài, khi ngài khuyến nghị rằng, tình yêu cảm tính được hiệp nhất với tình yêu thiết thực, như hai thực tại nên liên kết thành một thực tại duy nhất giống như sự kết hợp không thể phân li giữa bác ái và truyền giáo (CCD XI, 196, 198-200). Hoặc chúng ta có thể nhìn vào những lời của thánh nhân, khi ngài cảnh báo rằng, tình yêu thiết thực, một khi không được lòng nhiệt tâm truyền giáo đi đôi (bác ái mà không truyền giáo) thì thật đáng ngờ vực: “Này anh chị em, chúng ta hãy yêu mến Chúa, hãy yêu mến Chúa, nhưng bằng sức mạnh của đôi tay và mồ hôi trên trán của chúng ta; đối với rất nhiều hành động yêu mến Thiên Chúa, lòng sùng kính, và các cảm xúc tương tự khác và các thực hành nội tâm của một trái tim dịu dàng, mặc dù rất tốt và đáng mong đợi, tuy nhiên, rất đáng nghi ngờ nếu chúng không chuyển thành thực hành tình yêu thiết thực… Chúng ta phải hết sức cẩn thận về điều đó, vì có nhiều người, nghĩ về điều bên ngoài, và bị lấp đầy bởi những suy tư hão huyền bên trong, dừng lại ở đó, và khi cần làm điều gì đó, và họ có cơ hội để hành động, họ nghĩ cách ngắn gọn. Họ tự tâng bốc mình với trí tưởng tượng cuồng nhiệt của họ; họ hài lòng với cuộc trò chuyện ngọt ngào mà họ có với Chúa trong lúc nguyện gẫm và thậm chí nói về mình như những thiên thần; nhưng khi họ rời khỏi đó, nếu có câu hỏi về việc làm cho Chúa, tìm kiếm những con chiên bị lạc, cuộc sống hạnh phúc khi họ thiếu một thứ gì đó, hoặc chấp nhận bệnh tật hoặc một số bất hạnh khác, than ôi! họ không còn ở đây nữa; lòng can đảm của họ làm họ thất vọng. Không, không, chúng ta đừng tự lừa mình: Totum opus nostrum in operatione consistit (CCD XI, 32-33).

Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng đoàn sủng Vinh Sơn sở hữu một ngọn lửa không thể dập tắt, rực cháy. Ngọn lửa tình yêu gắn kết chúng ta, thúc giục chúng ta và khiến chúng ta say mê với sứ vụ. Thánh Vinh Sơn đã nói rất rõ điều này khi nói: “Chắc chắn rằng, khi lòng bác ái ở trong một tâm hồn, thì nó có đầy đủ mọi quyền năng của nó; nó không cho chính mình được nghỉ ngơi; đó là một ngọn lửa liên tục hoạt động; một khi một người được bén lửa bởi nó, nó sẽ khiến anh ta say mê” (CCD XI, 203).

Trừ khi chúng ta đi vào cấu trúc phục vụ mà đoàn sủng Vinh Sơn sở hữu, vào sự kết hợp không thể tách rời của bác ái và truyền giáo, chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được ý nghĩa sâu xa của con người và hoạt động của chúng ta. Nếu không có quan điểm mà chúng ta vừa đề cập, chúng ta có nguy cơ rơi vào một hình thức chủ nghĩa tâm linh nào đó, và sẽ không hữu ích cho bất kỳ Kitô hữu nào hoặc cho bất kỳ thành viên Vinh Sơn nào.

Ba Thực Tại Cơ Bản Để Hiểu Biết Về Bác Ái Và Truyền Giáo Vinh Sơn

Cấu trúc phục vụ được ban cho đoàn sủng Vinh Sơn không thể được hiểu đầy đủ, trừ khi chúng ta kết hợp nó với ba thực tại cơ bản đã nuôi dưỡng, củng cố và mang lại sự sống cho đức tin và kinh nghiệm của các Đấng Sáng Lập chúng ta. Như ai đó đã nói, Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô và người nghèo là ba thực tại cơ bản được liên kết với nhau và làm sáng tỏ điều sâu sắc nhất về đoàn sủng Vinh Sơn. Phân ly và tách rời những thực tại này là phủ nhận thực tế rằng, bác ái và truyền giáo là cùng động cơ của đoàn sủng Vinh Sơn. Hơn nữa, chúng ta không nói về bác ái và truyền giáo như một số hình thức của lòng vị tha hay một hình thức nhân văn khác phù hợp với một tổ chức phi chính phủ (NGO) hoặc các nhóm chuyên về các hoạt động xã hội khác nhau. Chúng ta hãy xem xét ngắn gọn ba thực tế này.

a) Tình yêu Thiên Chúa

Người ta đã biết rằng lòng bác ái xem Thiên Chúa là gốc rễ và nguồn mạch của nó. Chúng ta có thể chỉ ra nhiều trình thuật từ Tân Ước làm sáng tỏ lời khẳng định đã nói: Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta yêu mến Thiên Chúa, những chính người đã yêu thương chúng ta (1 Ga 4,10);  phần chúng ta, chúng ta hãy yêu thương, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng trước (1 Ga 4,19); Vì Thiên Chúa đã tuôn đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta (Rm 5, 5); Thiên Chúa là tình yêu, ai ở lại trong tình yêu thì ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong người ấy (1 Ga 4:16). Chúng ta cũng có thể lưu ý ở đây bất kỳ trình thuật nào của thánh Vinh Sơn khẳng định cùng một thực tại, chẳng hạn, những lời tuyệt vời mà ngài đã nói với các Nữ Tử Bác Ái: “Ở đâu có lòng bác ái, Chúa ở đó. Một người quan trọng đã nói rằng: tu viện của Chúa là lòng bác ái. Ngài thích ở đó, nơi vui thích của Ngài ở đó, đó là nơi ở mà Ngài rất hài lòng. Hãy bác ái, tử tế, có lòng nhân hậu, và Chúa sẽ sống ở giữa anh em. Anh em sẽ là người thân cận của Người, sẽ có Ngài trong nhà của mình, sẽ có Ngài trong trái tim của anh em” (CCD IX, 231). Như một nhà thần học đã tuyên bố: Tình yêu không chỉ đơn giản là một hoạt động của Thiên Chúa, mà đúng hơn tất cả hoạt động của Thiên Chúa là hành động của tình yêu. Nếu Thiên Chúa sáng tạo, thì Chúa sáng tạo qua tình yêu; khi Thiên Chúa cai quản, hoạt động này được thực hiện trong tình yêu và khi Ngài phán xét, một lần nữa, Ngài xét xử trong tình yêu thương… không có một Thiên Chúa nào vĩ đại hơn Thiên Chúa yêu thương và không có những người nam nữ đích thực hơn những người sống cuộc đời của họ trong tình yêu này và những người ở lại trong tình yêu này như nguồn sức mạnh, sự sống và ý nghĩa của họ [1].

Trong bối cảnh của đặc sủng Vinh Sơn, việc khẳng định Thiên Chúa là tình yêu, cũng giống như việc nói rằng, bác ái là một thực tại của đức tin hay một chân lý thần học và do đó, một mệnh lệnh bao hàm một sự cam kết. Chúa là Đấng đầu tiên chọn người nghèo. Do đó, nguyên nhân của người nghèo là nguyên nhân của Thiên Chúa và câu hỏi của người nghèo là câu hỏi của Ngài. Thiên Chúa đồng nhất mình với người nghèo và với chính nghĩa của họ và là kết quả của sự đồng nhất này, chúng ta có thể nói rằng người nghèo là nơi cư ngụ thần học (Kitô học) và nơi cư ngụ thiêng liêng của Thiên Chúa… nơi mà Thiên Chúa hiện diện trong những gì mà một số người có thể nói là sự hiện diện tai tiếng [2].

Trong bối cảnh này, chúng ta phải lập luận và giải thích đức tin và kinh nghiệm của thánh Vinh Sơn Phaolô, người đã khẳng định: Thiên Chúa là Đấng phù trợ người nghèo (CCD X, 411). Với cùng quan điểm này, chúng ta một lần nữa có thể tìm hiểu và hiểu về Đấng Sáng Lập Tu Hội Truyền giáo, Tu Hội Nữ Tử Bác Ái và Hiệp Hội Bác Ái khi ngài truyền đặc sủng Vinh Sơn cho họ. Là thành viên của Gia đình Vinh Sơn, chúng ta phải đọc bản văn đầy ý nghĩa của buổi đàm luận vào ngày 9 tháng 6 năm 1658, mà thánh Vinh Sơn đã dành cho các Nữ Tử Bác Ái đầu tiên. Sử dụng ngôn ngữ của thời đại đó, thánh Vinh Sơn đã trình bày một luận thuyết thần học về Thiên Chúa là Đấng phù trợ người nghèo và theo cách thức mà bất kỳ hoạt động nào nhân danh những người nghèo đều phải công bố sự thật rằng Thiên Chúa là tình yêu: “Các chị em có biết không, rằng tôi đã nghe nói những người đàn ông nghèo đó rất biết ơn về ân điển mà Chúa ban cho họ, khi họ thấy cách chúng ta đến để giúp họ và cho rằng những Nữ Tu đó không có hứng thú làm việc này ngoài tình yêu của Chúa, họ nói rằng, đối với họ khá rõ ràng rằng Thiên Chúa là Đấng bảo vệ người nghèo. Hãy xem thật là một phước lành khi giúp những người nghèo khó nhận ra lòng nhân từ của Thiên Chúa! Vì họ thấy rõ ràng rằng Ngài là người đã trao cho họ sự phục vụ. Vì vậy, họ cảm nhận được lòng sùng đạo sâu sắc và nói: “Lạy Chúa con, giờ đây chúng con nhận rằng những gì chúng con đã nghe giảng trước đây là sự thật, rằng Ngài lưu tâm đến tất cả những người cần giúp đỡ và không bao giờ bỏ rơi chúng con khi chúng con gặp nguy hiểm, vì Ngài trông nom những người khốn khổ đáng thương, những người đã xúc phạm đến lòng tốt của Chúa rất nhiều.” Cha đã nghe từ chính những người được các chị em chăm sóc và từ nhiều người khác rằng, họ đã được đánh động khi nhìn thấy những khó khăn mà các chị em gặp phải khi đến thăm họ, rằng họ nhận ra sự nhân từ của Chúa trong đó và thấy rằng họ có bổn phận tán tụng và cảm tạ Chúa” (CCD X, 411).

Chỉ từ góc độ tình yêu Thiên Chúa này, chúng ta mới hiểu cụm từ thường bị hiểu sai của H. Bremond: “Không phải người nghèo đã dẫn thánh Vinh Sơn Phaolô đến với Chúa, mà chính Chúa đã dẫn Ngài đến với người nghèo” [3].

b) Chúa Giêsu Kitô đã hạ mình bởi tình yêu thương

Trung tâm của đức tin và kinh nghiệm của thánh Vinh Sơn là hình bóng của tình yêu Chúa Kitô, Đấng biểu trưng cho tinh thần bác ái hoàn hảo và được mạc khải như một người khiêm nhường bởi tình yêu đối với nhân loại. Một Đấng Mêsia tôi tớ mang thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân… vâng lời cho đến ni bằng lòng chịu chết, chết trên thập tự giá (Pl 2, 6-8), một Đấng Mêsia đến để đồng hóa mình hoàn toàn với thực tại của con người, một Đấng Cứu Thế xuất hiện như một người tôi tớ, như một phục vụ, một Đấng Cứu Thế từ bỏ bản thân và những môn đệ của mình với bất kỳ danh hiệu uy lực hoặc quyền bính nào và thay thế tất cả các danh hiệu đó bằng danh hiệu đơn sơ của sự phục vụ.

Có lẽ sẽ không còn gì để nói về vấn đề này, nếu chúng ta suy ngẫm về ý nghĩa của những lời thánh Vinh Sơn nói trong một cuộc đàm luận nổi tiếng của ngài về bác ái. Không nghi ngờ gì những lời của ngài là bản tóm tắt hay nhất và cao cả nhất về ý nghĩa của tình yêu Đấng Kitô liên quan đến lòng bác ái đặc nét Vinh Sơn và những hiệu quả liên quan đến việc tuân theo Đấng Kitô-tình-yêu-khiêm-nhường: “Chúng ta hãy nhìn vào Con Thiên Chúa; Ngài đã có một tấm lòng bác ái; thật là một ngọn lửa của tình yêu! Xin hãy cho chúng con biết, ôi Chúa Giêsu, Đấng đã chính mình ra khỏi thiên đàng, để đến chịu sự nguyền rủa của thế gian và sự bắt bớ và cực hình mà Ngài phải chịu? Hỡi Đấng Cứu Rỗi! Nguồn tình yêu thương đã hạ thấp ngay cả đến tầm mức của chúng ta và sự thống khổ thấp hèn, Đấng đã bày tỏ, trong đó, tình yêu thương dành cho người thân cận lớn hơn chính Ngài đã làm? Ngài đến để đặt mình với tất cả nỗi thống khổ của chúng con, để mang lấy phận tội nhân, sống một cuộc sống đau khổ và trải qua một cái chết nhục nhã cho chúng con; có tình yêu nào như vậy không? Nhưng còn ai có thể yêu một cách tốt hơn như vậy? Chỉ có Chúa chúng con, Đấng say mê tình yêu các tạo vật, đến nỗi rời bỏ ngai vàng của Cha Ngài để đến mang thân phận yếu đuối. Và tại sao? Nhờ lời và gương của Ngài mà thiết lập giữa chúng ta tình yêu thương đối với người thân cận. Đây là tình yêu đã đóng đinh Ngài và mang lại công trình cứu chuộc đáng ngưỡng mộ đó cho chúng ta. Hỡi Đấng Cứu Thế, nếu chúng con chỉ có một chút tình yêu đó, liệu chúng con có khoanh tay đứng nhìn không? Liệu chúng con có để những người chúng con có thể giúp đỡ bị chết không? Ôi không! Bác ái không thể không hành động; nó thúc đẩy chúng con làm việc vì phần rỗi và an ủi của người khác” (CCD XII, 216).

Trong thế giới của lòng bác ái Vinh Sơn, Đức Kitô khiêm nhường này, Đấng Mêsia đầy tớ và đấng giải phóng này, có một mối liên kết đặc biệt với người nghèo trên thế giới. Bởi vì cuộc đời và sứ mệnh của Chúa Giêsu liên quan mật thiết đến thế giới của người nghèo và về cơ bản được đồng hóa với con người của Ngài, do đó, nếu không có điểm quy chiếu hoặc mối quan hệ này, thì chính con người của Chúa Giêsu như là vị cứu tinh của mọi người sẽ bị bóp méo [4]. Kết quả là, bác ái và truyền giáo đích thực của Vinh Sơn cũng sẽ bị bóp méo.

Để khám phá ra những tiêu chuẩn đã hướng dẫn Vinh Sơn và Louise trong việc thực thi lòng bác ái của các ngài và phải hướng dẫn những người theo họ, cần phải đi vào thông điệp và sứ mệnh của Chúa Giêsu, đồng thời khẳng định Chúa Giêsu và lựa chọn của Ngài đối với người nghèo là điểm quy chiếu tuyệt đối. Theo lời của Vinh Sơn Phaolô, lòng bác ái có nghĩa là chúng ta đang sống theo cách đích thực ơn gọi của Chúa Giêsu Kitô: “Hỡi anh em thân mến, chúng ta chẳng rất diễm phúc được sống đúng với ơn gọi của Chúa Giêsu Kitô sao?… Hỡi anh em, anh em thấy đấy, mục đích chính yếu của Chúa chúng ta, là làm việc cho những người nghèo. Khi anh em chỉ đến với người khác, nó chỉ là thoáng qua” (CCD XI, 122).

Chúng ta có thể đặt các Nữ Tử Bác Ái trong cùng bối cảnh tiếp tục sứ mệnh của Chúa Giêsu. Thánh Vinh Sơn Phaolô đã thiết lập một nguyên tắc cơ bản liên quan đến danh tính của các Nữ Tử: “Để trở thành Nữ Tử Bác Ái thực sự, chị em phải làm những gì Con Người đã làm khi Ngài còn ở thế gian” (CCD IX, 14). Và ngay lập tức thánh nhân làm sáng tỏ lời của mình: “và Ngài đã làm gì trên thế giới này, ngoài việc phục vụ những người nghèo khổ?” (CCD IX, 256).

c) Niềm đam mê đối với người nghèo

Rõ ràng, bác ái và truyền giáo Vinh Sơn không thể tồn tại, nếu không đề cập rõ ràng đến người nghèo, những người được hưởng trước hết đức bác ái và truyền giáo này. Để nói về người nghèo bằng ngôn ngữ mà thành viên Vinh Sơn hiểu, chúng ta nghĩ ngay đến những từ bác ái và truyền giáo, và để nói về bác ái và truyền giáo, người nghèo xuất hiện ở vị trí đầu tiên hết, vì thực sự người nghèo là trung tâm của đoàn sủng Vinh Sơn.

Do đó, có thể nói rằng, trong các ngành Vinh Sơn, người nghèo là chủ điểm và với tư cách là thành viên Vinh Sơn, chúng ta say mê người nghèo. Lòng bác ái và truyền giáo của Vinh Sơn đưa chúng ta đến một lựa chọn, không chỉ ưu tiên mà còn là một lựa chọn tuyệt đối và độc quyền. Chúng ta phải chọn yêu người nghèo và phục vụ họ và truyền giáo cho họ (không phải theo một cách lý tưởng, lãng mạn nào đó) với sự nồng nhiệt, nhân hậu và thông minh, ý thức về sự kiện Chúa Giêsu đã đồng hóa mình với người nghèo và do đó chúng ta phải sẵn lòng đồng nhất chính mình với người nghèo và sẵn sàng trả cái giá cần thiết là kết quả của việc xác định này. Cuối cùng, chúng ta phải sẵn sàng hợp nhất mình với hoạt động thiêng liêng, từ quan điểm của hai phạm trù tình yêu Kitô hữu bổ sung cho nhau: chữa lành và bảo vệ… tất cả đều phải xuất phát từ lòng biết ơn. Để lòng mến dành cho người nghèo này không trở thành một lý thuyết hay ý tưởng mơ hồ nào đó, các Đấng Sáng Lập đã đặt trước chúng ta hai khái niệm chính: người nghèo như các bí tích của Đức Kitô và người nghèo là Chúa và là chủ của chúng ta.

Sống Động Hóa Lòng Bác Ái Và Truyền Giáo Hôm Nay

Có lý do, người ta nói rằng, mọi thể chế đều có nguy cơ nằm yên trong bóng tối của lịch sử quá khứ của nó. Gia đình Vinh Sơn phải đối mặt với nguy cơ và sự cám dỗ tương tự, khi thôi các hành động của những người tiền nhiệm của chúng ta, bắt đầu từ những Đấng Sáng Lập của chúng ta, và do đó, không thực hiện các bước cần thiết ngày nay. Để tránh bị cám dỗ này, thật tốt khi ngồi ở đây và bây giờ và do đó được thúc đẩy bởi lịch sử của Gia đình chúng ta, chúng ta có thể suy ngẫm về những nhiệm vụ cấp bách mà truyền giáo và bác ái Vinh Sơn phải đáp ứng vào thời điểm hiện tại và các tiêu chí mà chúng ta có thể mang đến nhiều thách thức mà thế giới phải đối mặt. Đây là cách tốt nhất để mang sự khôn ngoan mới vào đặc sủng của chúng ta. Nói cách khác, đây là thời điểm hồi sinh.

Một cách không mệt mỏi với chủ đề này, tôi sẽ chỉ ra ngắn gọn một số yêu cầu và tiêu chí như những con đường để hồi sinh lòng bác ái và truyền giáo. Tôi đặt cả yêu cầu và tiêu chí cùng nhau, bởi vì mỗi nhiệm vụ cấp bách đều bao hàm những tiêu chí nhất định và đến lượt nó, những tiêu chí này lại được hỗ trợ bởi thái độ và niềm tin. Mặc dù tôi đã nói rằng, bác ái và truyền giáo tạo thành một chính thể bất khả phân ly, tôi sẽ cố gắng tách chương này thành các phần và làm điều này vì lý do sư phạm và cũng để rõ ràng hơn.

1] Yêu cầu và tiêu chí bác ái

a) Khôi phục từ “bác ái”

Cần phải nhớ rằng ở thời điểm hiện tại, con người chưa có đủ tư cách để hiểu bác ái theo đúng nghĩa của nó. Một môi trường văn hóa, xã hội và thậm chí cả Giáo hội, trong đó từ bác ái bị coi là lỗi thời và do đó là thứ phù hợp với những người tốt và ngoan đạo, chứ không còn gì hơn. Điều đáng quan tâm là trong các cuộc tập họp, gặp gỡ, đại hội… người ta thường dùng từ bác ái mà thay thế bằng từ đoàn kết, văn minh tình thương, dấn thân. Có ấn tượng rằng bất kỳ từ nào khác đều có giá trị ngoại trừ từ bác ái. Sử dụng một cách diễn đạt thịnh hành, có thể nói rằng trong nhiều giới, từ bác ái không đúng về mặt chính trị. Đức Bênêđíctô XVI đã nói về điều này trong thông điệp Caritas in varitate (Bác ái trong Chân lý) của ngài một cách chân thực: “Tôi biết bác ái đã và đang bị tước đoạt ý nghĩa, từ đó đưa đến nguy cơ là người ta sẽ hiểu sai bác ái, tách rời bác ái ra khỏi đời sống luân lý và trong mọi trường hợp, đều bị mất giá trị.” (Benedict XVI, Caritas in veritate, # 2).

Đương nhiên, bất kỳ thành viên nào của Gia đình Vinh Sơn đều có thể phản hồi và tuyên bố rằng, từ góc độ đặc sủng của Đấng Sáng Lập chúng ta và đặc biệt là từ góc độ thực hành hàng ngày của rất nhiều con trai và con gái của thánh Vinh Sơn, ý nghĩa bị bóp méo này của lòng bác ái không có mối liên hệ nào với ý nghĩa và sự hiểu biết đích thực của lòng bác ái Kitô Giáo và Vinh Sơn. Tuy nhiên, cũng cần phải nhớ rằng, chúng ta là một phần của lịch sử lâu dài của Kitô giáo, trong đó lòng bác ái không phải lúc nào cũng thể hiện sự rõ ràng của Phúc âm… và do đó với tư cách là thành viên Vinh Sơn, chúng ta là một phần của lịch sử tiêu cực này.

b) Chấm dứt tình trạng lưỡng diện giữa “bác ái và công bình”

Trong tình hình hiện nay, xung đột giữa bác ái và công bình vẫn tiếp tục, một xung đột trong đó công bình được ưu tiên hơn bác ái. Chắc chắn lòng bác ái không thể che đậy sự bất công hay trở thành biểu hiện của chủ nghĩa gia trưởng. Trên thực tế, rõ ràng là, không có công lý thì không thể có biểu hiện của lòng bác ái chân chính. Người ta không thể nói rằng họ ủng hộ người nghèo, rằng yêu thương và phục vụ họ, trừ khi họ cũng tham gia vào cuộc đấu tranh chống lại đói nghèo, chống lại những nguyên nhân tạo ra đói nghèo và chống lại những bất công do nghèo đói gây ra. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói rất rõ điều này khi ngài nói: “Tình yêu đối với người khác, và trước hết là tình yêu đối với người nghèo, nơi mà Giáo hội nhìn thấy chính Chúa Kitô, được thực hiện cụ thể trong việc cổ võ công bình” (Gioan Phaolô II, Centesimus annus, # 58).

Nhưng công bình thôi là chưa đủ. Người La Mã nhận thức được mối nguy hiểm này, khi họ nói rằng công bình nghiêm khắc nhất có thể trở thành bất công rõ ràng nhất. Ngay cả khi con người có một chế độ an sinh xã hội nhất định, cho phép họ thỏa mãn mọi nhu cầu của mình, thì họ vẫn có nhu cầu được chăm sóc một cách yêu thương [5].

Do đó cần phải gắn công bình với bác ái… bác ái với công bình. Đức Bênêđíctô XVI đã nêu bật sự kiện này trong thông điệp mà chúng ta đã trích dẫn ở trên: “Ai yêu thương anh em trong tình bác ái, thì trước hết phải thực thi công lý đối với họ. Công lý không những không xa lạ với bác ái, cũng không phải là con đường thay thế hay song song với bác ái: công lý liên kết chặt chẽ với bác ái, công lý là yếu tố nội tại của bác ái.” (Benedict XVI, Caritas in veritate, # 6)

Thánh Vinh Sơn Phaolô nói với chúng ta rằng, như nói với một cha Lazarist: “Thiên Chúa sẽ ban cho cha ân sủng, để làm dịu trái tim của chúng ta đối với những tạo vật khốn khổ và nhận ra rằng khi giúp đỡ họ, chúng ta đang thực hiện một hành động công bằng chứ không phải lòng thương xót!” (CCD VII, 115).

c) Sự nhạy cảm “khác biệt” đối với người nghèo

Thiết lập các mối quan hệ thân thiện và thiết thực với những người nghèo mang đặc nét Vinh Sơn. Một cách khác để nói điều này là chúng ta nên có cái nhìn của Vinh Sơn về người nghèo, đối diện trực tiếp với cái nhìn bình thường mà xã hội đã giữ về người nghèo, một cái nhìn mà trong nhiều trường hợp, chúng ta cũng đã hình thành thái độ và trở thành một phần của hệ tư tưởng của chúng ta.

Mô hình của sự nhạy cảm khác biệt này, được tìm thấy trong tình trạng cấp tiến của Vinh Sơn, khi ngài bảo vệ phẩm giá và tự do của người nghèo, chống lại lòng bác ái sai lầm của những người có trách nhiệm đối với xã hội Pháp trong thế kỷ XVII. Sắc lệnh hoàng gia ngày 27 tháng 4 năm 1656 phản ánh cấu trúc xã hội và lương tri của Pháp liên quan đến người nghèo và những người bị thiệt thòi: “Những cá nhân này nên bị nhốt để làm sạch thành phố và bảo vệ những công dân tử tế khỏi bị làm hại bởi những cá nhân nói trên, do đó lợi ích tập thể sẽ được tôn trọng.” Những người ủng hộ việc nhốt người nghèo nói: “Nhốt người nghèo không có nghĩa là chúng ta đang tước đi tự do của họ, mà là chúng ta đang tách họ khỏi lối sống phóng túng, khỏi chủ nghĩa vô thần và khả năng bị lên án.” Thánh Vinh Sơn đã mạnh mẽ phản đối lập trường chính trị này và lên tiếng bảo vệ nhân phẩm và tự do của người nghèo, đồng thời khuyến khích xã hội khôi phục cuộc sống và phẩm giá cho những người có nguy cơ bị chôn sống.

d) Một bài đọc quan trọng trong lĩnh vực gốc rễ của việc bị gạt ra ngoài lề

Về mặt logic, chúng ta không thể đáp ứng nhu cầu của những người nghèo và bị gạt ra ngoài lề trừ, trừ khi chúng ta hiểu trước về các cơ chế kinh tế, xã hội và chính trị tạo ra nghèo đói, khốn cùng, bị gạt ra ngoài lề và bị loại trừ, trừ khi chúng ta tham gia vào một phân tích quan trọng về tình trạng gạt ra ngoài lề xã hội và nguyên nhân của nó: các cấu trúc của tội lỗi hoặc các cơ chế gian tà mà Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã đề cập đến trong thông điệp Sollicitudo rei socialis của ngài [6].

Trong buổi tiếp kiến ​​ngày 30 tháng 6 năm 1986, Đức Gioan-Phaolô II đã nói với các đại biểu của Tổng Đại Hội lần thứ XXXVII của Tu Hội Truyền Giáo: “Các Cha và các Thầy của Tu Hội Truyền Giáo, hơn bao giờ hết và với sự can đảm, khiêm tốn và năng lực, hãy điều tra nguyên nhân của sự nghèo đói. Khuyến khích các giải pháp dài hạn và ngắn hạn của họ, các giải pháp cụ thể, có thể thay đổi và hiệu quả. Khi làm điều này, anh em đang cộng tác với sự khả tín của Phúc âm và của Giáo hội… Sống gần gũi với người nghèo và hành động sao cho họ không bao giờ bị tước đoạt khỏi Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô.

e) Hiệp thông với người nghèo

Điều quan trọng hơn hết là hiệp thông với những người mà chúng ta được mời gọi để yêu thương và phục vụ, hiệp thông với những người mà chúng ta đang đấu tranh. Bằng cách này, chúng ta tránh được nguy cơ về tính chuyên nghiệp rỗng tuếch hoặc bị cuốn vào thói quen hàng ngày.

Hiệp thông bao hàm sự hiểu biết thực sự về các vấn đề và nhu cầu của những người nghèo khổ, một cuộc gặp gỡ đích thực với họ, một sự chấp nhận sâu sắc đối với họ, một mối quan hệ tình cảm và rõ ràng với họ, một sự tham gia thực sự vào những khó khăn của họ và tôn trọng các quyền lợi của họ. Hiệp thông cũng có nghĩa là chúng ta lắng nghe và đối thoại với người nghèo; để khám phá các giá trị của họ và để giúp họ nhận thức được tiềm năng của mình; để chúng ta cho phép tiếng nói của họ chất vấn chúng ta; để chúng ta trở thành tiếng nói của người không có tiếng nói; để bảo vệ quyền của những người dễ bị tổn thương nhất và làm cho người khác nhận thức được nguyện vọng chính đáng của họ. Hiệp thông là để dành sự quan tâm cá nhân đến những người nam nữ nghèo khổ.

f) Một “hình ảnh bác ái” mới

Đây là cách diễn đạt mà Đức Gioan Phaolô II đã đề cập đến trong số 50, trong Tông Thư của ngài, Novo Millennio Ineunte. Đức Giáo Hoàng nói rằng, chúng ta phải cố gắng tiếp tục truyền thống bác ái đã có nhiều biểu hiện khác nhau trong suốt hai nghìn năm qua và ngày nay đòi hỏi sự sáng tạo lớn hơn. Nói cách khác, hình ảnh về lòng bác ái này đòi hỏi một sự can đảm tìm kiếm những phương pháp mới, những hình thức mới và những cách thức phục vụ mới. Tất cả những điều này xuất phát từ thực tế là ngày nay phục vụ người nghèo đòi hỏi một sự thay đổi khung suy tư sẽ cho phép chúng ta gạt bỏ mọi hình thức bất động tàn tật mà chúng ta chỉ cần lặp lại những gì đã làm ngày hôm qua.

Do đó, sự thay đổi mang tính hệ thống là một thách thức và một đòi hỏi nếu chúng ta hy vọng tham gia vào việc đọc về Thánh Vinh Sơn Phaolô và Thánh Louise de Marillac ngày nay [7].

g) Tổ chức và chuẩn bị được phối hợp

Không ai có thể phủ nhận rằng ngay từ đầu, tổ chức phối hợp đã là trọng tâm của bác ái Vinh Sơn. Câu nói nổi tiếng của thánh Vinh Sơn Phaolô ở Châtillon-les-Dombes, “ở đây có lòng bác ái rất lớn, nhưng lòng bác ái chưa được tổ chức tốt,” đã trở thành tia lửa dẫn đến việc thành lập Hiệp hội bác ái Quốc tế ngày nay.

Cùng với tổ chức là sự cần thiết phải có sự chuẩn bị đầy đủ, tức là, sự đào tạo liên tục. Người ta chỉ cần xem các nội quy cho các hiệp hội bác ái đầu tiên và người ta sẽ tìm thấy mối quan tâm để phục vụ tốt ngay cả trong những chi tiết nhỏ nhất.

Nếu không có tổ chức này và sự chuẩn bị này, chúng ta có nguy cơ khiến bản thân trở nên quá mỏng, trở nên “kiệt sức” và không đủ năng lực. Điều này càng nguy hiểm hơn vì hoạt động của chúng ta được thực hiện thay mặt cho những người dễ bị tổn thương và yếu ớt, những người cần được hỗ trợ thường xuyên để vượt qua khó khăn và tự trang trải cuộc sống. Khi hoạt động của chúng ta không được tổ chức, sẽ trở nên rất khó hiểu, khó nghiên cứu và phân tích nguyên nhân tạo ra những tình huống khốn cùng và bị gạt ra ngoài lề xã hội [8].

2] Yêu cầu và tiêu chí cho truyền giáo

a) Lưu ý và tái thiết lĩnh vực cụ thể của truyền giáo Vinh Sơn

Vào ngày 6 tháng 12 năm 1658 trong một buổi đàm luận về mục đích của Tu Hội Truyền Giáo, thánh Vinh Sơn Phaolô đã trình bày một khuôn khổ cụ thể cho truyền giáo Vinh Sơn: “làm cho những người nghèo được biết đến Thiên Chúa; để loan báo Chúa Giêsu Kitô cho họ; để nói với họ rằng vương quốc thiên đàng đang ở trong tầm tay và nó dành cho những người nghèo khổ” (CCD XII, 71). Điều thú vị là các Thừa sai hiếm khi trích dẫn hoặc nhắc đến cụm từ này của thánh Vinh Sơn, trong khi các Nữ Tử Bác Ái đã kết hợp những từ này vào văn bản của Hiến pháp trước đây cũng như hiện tại của họ [9].

Khuôn khổ cụ thể này phải truyền cảm hứng, hướng dẫn và cung cấp một sự thống nhất cho tất cả các hoạt động truyền giáo của chúng ta. Đồng thời, tất cả thái độ và quan điểm của chúng ta phải được định hình và tuôn chảy từ cùng một khuôn khổ này.

b) Đi vào thực tế

Khởi đầu của cam kết truyền giáo là kinh nghiệm và những tác động nảy sinh từ tác động của thực tế đối với chúng ta. Không thể thiếu việc đi vào thực tế của các nạn nhân, thực tế của những người sống sót trong hệ thống. Trong dụ ngôn Phúc âm, người Samaritanô nhân hậu đến gần người anh em của mình, người bị ngược đãi và kết quả là động lòng trắc ẩn khi nhìn thấy (Lc 10,33).

Để gánh chịu sức nặng và trách nhiệm của những người bị gạt ra ngoài lề xã hội, chúng ta phải tiếp cận và nhìn nhận thực tế một cách lâu dài. Thật vậy, một bước hoàn toàn cần thiết trong việc thăng tiến truyền giáo Vinh Sơn là mở mình ra với thực tế, để hiểu thế giới của sự bất bình đẳng, bất công và sa đọa và để cho phép bản thân bị tra vấn bởi những thực tại chung.

c) Hiểu về cuộc sống từ mặt trái của lịch sử

Cha đẻ của thần học giải phóng, Gustavo Gutiérrez, nói rằng, nó không giống nhau khi đọc Phúc âm và thực tế bằng con mắt của người giàu với con mắt của người nghèo. Khi chúng ta đọc về Phúc âm và cuộc sống từ quan điểm của người nghèo, chúng ta nhận thức được những phán đoán và sự nhạy cảm và những hoạt động hoàn toàn khác với những hoạt động mà xã hội và hệ thống đã thiết lập coi là bình thường.

Không còn nghi ngờ gì nữa, thế giới được nhìn thấy khá rõ ràng trong các căn lều của người nghèo hơn là trong các cung điện của người giàu, khá rõ ràng, bởi những người nhập cư bất hợp pháp vượt qua eo biển hơn là những cá nhân sống ở rìa Đất Hứa, khá rõ ràng bởi những người thất nghiệp và những người đã có tất cả cuộc sống tươm tất.

d) Phục hồi một linh đạo nhập thể

Phù hợp với thực tại Kitô học được thánh Vinh Sơn Phaolô và thánh Louise de Marillac đánh giá cao, một linh đạo nhập thể là một linh đạo tuôn trào từ bên dưới: sự tự hủy của Chúa Kitô, nghĩa là hạ thấp hoặc khiêm nhường bản thân với bài Thánh thi nổi tiếng của Phaolô được tìm thấy trong thư gửi tín hữu Phi-líp-phê.

Chúng ta có nguy cơ nghĩ rằng, chúng ta có thể thực hiện một cam kết từ xa. Do đó, cần phải thiết lập một quy tắc vàng: chúng ta không thể rao giảng một sứ vụ, mà không nhập thể vào thế giới của người nghèo, mà không trở thành hội nhập văn hóa vào thế giới của người nghèo.

Tất cả những điều này được giải thích rất rõ ràng bởi Ủy ban Giám mục về Xã hội trong tài liệu của họ, La Iglesia y los pobres (Giáo hội và người nghèo): Để cứu chúng ta, Thiên Chúa đã đến gần chúng ta, Ngài đến sống với chúng ta và giữa chúng ta; “Ngài tự hạ mình, mang thân phận một nô lệ” (Phi-líp-phê 2,7). Lòng Bác ái của chúng ta phải đưa chúng ta đến gần hơn với người nghèo bằng mọi cách có thể, nhưng đặc biệt là chia sẻ cuộc sống của chúng ta với những người nghèo. Sống giữa những người nghèo, giúp chúng ta phân tích các tình huống một cách thực tế, cho phép chúng ta chia sẻ những vấn đề của họ và tìm kiếm giải pháp; cho phép chúng ta nhận được tình bạn của họ và cũng nhận được tình bạn đặc biệt của Chúa dành cho những người phục vụ những người nghèo khổ [10].

e) Tạo điều kiện cho “sứ vụ được chia sẻ”

Kể từ thời Công đồng Vatican II, chúng ta đã dành nhiều thời gian để nói về sự tham gia, cộng tác và sự can dự của giáo dân vào sứ vụ của Giáo hội. Chúng tôi cũng đã dành nhiều thời gian để nói về sứ vụ của Gia đình Vinh Sơn. Bây giờ là lúc để thực hiện nghiêm túc khái niệm về chia sẻ sứ vụ. Bốn mươi năm trước, một người phụ nữ vĩ đại, Sơ Suzanne Guillemin, đã viết những lời tiên tri sau đây: “Chúng ta phải chuyển từ vị thế ưu việt sang vị thế cộng tác” [11].

Đối với tất cả các ngành của Gia đình Vinh Sơn, một sứ vụ chung đòi hỏi sự hiểu biết lẫn nhau, sự cộng tác không thành kiến, sự cởi mở chân thành, một khuôn khổ khác, sự hiệp thông trung thành, sự đào tạo đang được chia sẻ, củng cố đặc sủng Vinh Sơn và sự hiệp nhất duy trì tính đặc biệt.

f) Hiện diện trong đời sống cộng đồng

Ở đây tôi đặc biệt đề cập đến các thành viên giáo dân của Gia đình Vinh Sơn. Tôi cũng tham khảo một tài liệu quan trọng được xuất bản vào tháng 4 năm 1986 bởi các giám mục Tây Ban Nha, một tài liệu có tựa đề: Los católicos en la vida pública (Người Công giáo trong đời sống cộng đồng). Chắc chắn có nhiều sự sợ hãi và thờ ở giữa các giáo dân Vinh Sơn khi họ được khuyến khích thay thế vị trí của họ trên đấu trường cộng đồng với tư cách là những cá nhân gây dựng lòng bác ái và làm chứng cho sứ vụ.

Trong tài liệu mà tôi đã trích dẫn, các giáo dân được yêu cầu dấn thân ở nơi công cộng và sự hiện diện của họ phải có hiệu quả, chứ không chỉ là một nhân chứng. Họ nên thực sự tuyên xưng đức tin của mình thông qua một cam kết chính trị – xã hội và do đó cá nhân chấp nhận trách nhiệm đối với các lĩnh vực khác nhau của xã hội, khi họ tham gia một cách tích cực vào các hiệp hội khác nhau… họ được khuyến khích nhấn mạnh lòng tận tụy đối với công lý. Chúng tôi nêu bật thực tế là tài liệu của vị giám mục dành hai đoạn văn cho chủ đề bác ái chính trị [12]. Về vấn đề này, các giám mục tuyên bố: bác ái chính trị chủ yếu không hoạt động như một sự thay thế cho những thiếu sót của công lý, mặc dù đôi khi có thể cần phải làm như vậy… Thay vào đó, chúng tôi đang đối phó với một lòng tận tụy tích cực và hoạt động, một lòng tận tụy là kết quả của tình yêu Kitô giáo đối với những người được xem như anh chị em, một lòng tận tụy thay mặt cho một thế giới công bằng và thân thiện hơn, dành sự quan tâm đặc biệt đến nhu cầu của những người nghèo nhất.

Là thành viên Vinh Sơn, chúng ta phải lưu tâm đến lời kêu gọi thực hiện bác ái chính trị, nghĩa là chúng ta phải nhớ đến hai chiều kích của lòng bác ái đã được Vinh Sơn truyền lại cho chúng ta: cuộc đấu tranh để thay đổi cơ cấu và sự tố cáo ngôn sứ.

Trong lịch sử của Gia đình Vinh Sơn của chúng ta, chúng ta có những mẫu gương quan trọng về sự hiện diện của các chiến binh của chúng ta trên đấu trường cộng đồng, một sự hiện diện thu hút chúng ta và đặt câu hỏi cho chúng ta. Ví dụ, cần lưu ý rằng vào cuối thế kỷ XIX và do việc công bố Rerum Novarum của Đức Giáo Hoàng Lêô XIII, liên đoàn lao động đầu tiên của phụ nữ ở Pháp đã được thành lập và do Nữ Tu Đức Mẹ lãnh đạo. Đồng thời, chúng tôi nhấn mạnh sự thật rằng Frederic Ozanam – có lẽ là người chú giải hay nhất về Vinh Sơn Phaolô – đã tham gia thành lập tờ báo L ‘ Ere nouvelle và từ tòa án công khai này đã đấu tranh kiên quyết để bảo vệ nhân phẩm và quyền của những người bị loại trừ khỏi xã hội.

g) Dành một vị trí đặc biệt cho hoạt động truyền giáo của việc Phúc âm hóa

Vào giữa những năm 1960, với công đồng vừa được kết thúc, Alfonso Carlos Comín, một giáo dân tận tâm và năng nổ, đã xuất bản một cuốn sách có tựa đề: Tây Ban Nha: đất nước của truyền giáo? Cuốn sách này đã làm nhiều người băn khoăn (suy cho cùng thì Tây Ban Nha là một quốc gia Công giáo) và cuốn sách bị nhiều người xem là vô lý. Nhưng như mọi khi, thời gian đã cho thấy sự phù hợp của việc xuất bản nói trên.

Ngày nay, chúng ta đang sống trong một tình trạng thiếu lòng tin, đã trở nên gay gắt hơn và ngột ngạt hơn. Một loại cơn cuồng phong cứng đầu và âm thầm của sự thờ ơ, đang lan rộng bởi những tiến bộ về mặt hình thức đối với mọi thứ thiêng liêng, siêu việt và tôn giáo. Đồng thời, có một sự thiếu hiểu biết nghiêm trọng đối với các vấn đề liên quan đến Công Giáo và sự thiếu hiểu biết này ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn theo thời gian.

Trong di sản Vinh Sơn, chúng ta có một sứ mệnh, một sự kế thừa trực tiếp từ thánh Vinh Sơn Phaolô, một sứ mệnh được gọi là sứ mệnh bình dân, tức là một sứ mệnh hướng về con người. Sứ mệnh này luôn là một yếu tố cấu thành ơn gọi Vinh Sơn của chúng ta. Các sứ mệnh bình dân đã có những thời khắc huy hoàng trong thời kỳ mở ra của thời kỳ Công Giáo. Ngày nay, những sứ vụ này đang giảm sút, bởi vì xã hội đã thay đổi hoàn toàn hoặc vì chúng ta chưa khám phá ra cách đổi mới, thích nghi và tái lập những sứ mệnh này.

Không cần thiết phải thực hiện lại những cuộc đại phúc này và thực hiện điều này với sự táo bạo, sáng tạo, trí tưởng tượng, sự kiên nhẫn và nhiệt tình sao? Không cần phải cùng nhau nỗ lực, suy nghĩ, chương trình và kế hoạch của chúng ta để thiết lập lại các kỳ đại phúc sao? Nếu công cuộc đại phúc được coi là khẩn cấp và cần thiết trong thời đại trước đây của Kitô Giáo, thì ngày nay nó là cấp bách nhất.

Kết

Bác ái và truyền giáo là những đòi hỏi không thể thiếu trong thời điểm hiện tại. Thế giới của chúng ta đang cần cả hai thực tại này, trong đó có sự cam kết nghiêm túc của toàn thể Giáo hội, đặc biệt là các thành viên của Gia đình Vinh Sơn. Tại trung tâm của bác ái và truyền giáo, chúng ta gặp người nghèo. Do đó, từ quan điểm của người nghèo, chúng ta phải đánh giá cam kết của mình. Ví dụ, người nghèo có hướng dẫn và xác định các việc phục vụ và sứ vụ của chúng ta không? Người nghèo có định hình về thái độ và tiêu chí của chúng ta không? Chúng ta có cơ cấu thích hợp để phục vụ người nghèo không? Chúng ta có coi trọng tình yêu thương của Đức Kitô không và chúng ta có đến gần người nghèo hơn nhờ tình yêu thương của Đức Kitô không?

Đây là những câu hỏi cơ bản mà Đấng Sáng Lập của chúng ta sẽ hỏi ngày hôm nay. Như Bob Dylan diễn giải trong bài hát của anh ấy, câu trả lời là thổi trong gió, tôi cũng dám khẳng định rằng, câu trả lời nằm trong mỗi chúng ta.

(Lm Phêrô Phạm Minh Triều, CM và Thầy Toma Thiện-Phạm Minh Ngọc chuyển ngữ từ Anales Volume 118, No. #3 – May-June 2010.)


[1] Cf., Andrés Torres Queiruga, La caridad, dimensión esencial de la vida cristiana (Charity, an essential dimensión of the Christian life), en 1 Corintios XIII. 33 (1985), p. 10-11.

[2] Cf. Julio Lois, Teología de la Liberación. Opción por los pobres (Liberation Theology: an option for the poor), IEPALA Fundamentos, Madrid, 1986, pp. 149-157; Ignacio Ellacuría Pobres (The Poor), in Floristán, Casiano y Juan José Tamayo (editors), Conceptos fundamentales de Pastoral (Fundamental Pastoral Concepts), Cristiandad, Madrid, 1983, pp. 790-792.

[3] H. Bremond, Historia literaria del sentimiento religioso en Francia, t. III, p. 246.

[4] Julio Lois, op.cit., p. 158.

[5] Cf., Luis González-Carvajal, Con los pobres. Contra la pobreza (With the poor. Against poverty), Paulinas, Madrid, 1991, pp. 118-119.

[6] Cf., John Paul II, Sollicitudo rei socialis. John Paul II speaks about structures of sin in #36, 37, 38, 39, 40 and 46 and mentions the expression perverse mechanisms in #17, 35, 40.

[7] In order to begin to understand the meaning of Systemic Change we have available to us a book entitled, Seeds of Change, Editorial La Milagrosa, Madrid, 2008. The book was put together by the members of Commission for the Promotion of Systemic Change.

[8] Association of Charity of Saint Vincent de Paul, Let us Act Together Against Poverty. Basic Document, Brussels, 1980, p. 2. 21/80/4-2. 21/80/6.

[9] Daughters of Charity of Saint Vincent de Paul, Constitutions of 1983, #1.7; Constitutions of 2004, #10, a.

[10] Episcopal Commission on Social Ministry, La Iglesia y los pobres (The Church and the poor), p. 134.

[11] Sister Suzanne Guillemin, Problemas y futuro de las religiosas (Problems and the future of women religious), Mensajero, Bilbao, 1969, p. 35.

[12] Cf., The Permanent Commission of the Spanish Episcopal Conference, Los católicos en la vida publica (Catholics in Public Life), #60-61. With regard to the communal and political dimension of charity see the International Association of Charity of Saint Vincent de Paul, Let us Act Together Against Poverty. Basic Document, Brussels, 1980, p. 2. 21/80/4-2. 21/80/6.