Tính Hiệp Hành Trong Đoàn Sủng Vinh Sơn (tiếp phần IIc)

Đăng ngày: 8 giờ trước

Phần IIc: Khía cạnh hiệp hành trong ba tổ chức Vinh Sơn đầu tiên- Tu Hội Nữ Tử Bác Ái

Sr Mª Isabel Vergara Arnedillo, D.C.

Tu hội này ra đời một cách đơn sơ và bất ngờ. Thánh Vinh Sơn đã diễn tả điều đó nhiều lần như sau: ai mà ngờ rằng lại có Tu Hội Nữ Tử Bác Ái chứ?… Tôi không nghĩ đến điều đó… Chúa đã nghĩ đến điều đó cho các chị em (CCD IX, 93). Và quả thật, Chúa đã tạo điều kiện cho một loạt các sự kiện trong việc chăm sóc những người Ngài yêu thương nhất, đó là người nghèo, để dẫn đến sự thành lập cộng đoàn này, nhưng trên hết, Chúa đã mang đến sự gặp gỡ của những người khác nhau, những người bắt đầu “cùng nhau bước đi” để đáp lại sự nghèo khó của thời đại, “cùng nhau bước đi” trong việc noi theo Chúa Kitô, Đấng rao giảng Tin Mừng và tôi tớ của người nghèo.

Hai tổ chức Vinh Sơn đầu tiên đã được thành lập. Thánh Vinh sơn, Đấng sáng lập, đã điều phối hoạt động của các thành viên và trong cả hai trường hợp, ngài đều được Thánh Louise de Marillac hỗ trợ.

Ban đầu, Thánh Vinh Sơn nghĩ rằng các Hội Huynh đệ Bác ái (Confraternities) sẽ chỉ được thành lập ở các làng quê, nhưng theo Abelly, nhà viết tiểu sử đầu tiên của ngài, thì không phải vậy: Thánh Vinh Sơn ban đầu dự định thành lập các Hội Huynh đệ này ở các làng quê vùng nông thôn, để chăm sóc người nghèo đau bệnh, nơi nhu cầu thường cấp thiết nhất. Tuy nhiên, một số quý bà có đất đai ở giáo phận Paris hoặc nơi khác, và những người đã tiếp đón các đoàn đại phúc, đã thấy các Hội Huynh đệ Bác ái được thành lập mang lại kết quả tốt đẹp cho người nghèo ốm bệnh. Họ nhận ra rằng có nhiều trường hợp tương tự ở Paris, và tin rằng các Hội Huynh đệ Bác ái này nên được thành lập ở các giáo xứ của Paris và các quận ngoại ô… Những người phụ nữ này đã nói chuyện với các cha xứ, và các cha xứ lần lượt tham khảo ý kiến ​​của Thánh Vinh Sơn. Ngài  đồng ý giúp đỡ trong việc thành lập các Hội Huynh đệ này ở các giáo xứ cần đến chúng.[1]

Hội Huynh đệ đầu tiên của Paris được thành lập vào năm 1630 và dần dần các hội khác được thành lập ở hầu hết các giáo xứ của thành phố và vùng ngoại ô Paris.[2] Thánh Louise đang thiết lập các quy định cho từng giáo xứ.

Những khó khăn nhanh chóng nảy sinh, như thường lệ, đặc biệt là khi cố gắng chuyển mô hình Hội Huynh đệ từ nông thôn lên thành phố. Tuy nhiên, điều khiến Thánh Vinh Sơn lo ngại nhất được thể hiện trong một buổi đàm luận mà ngài dành cho các nữ tử: Vào khoảng thời gian đó, vì các Quý bà Bác ái Saint-Sauveur là những phụ nữ quý tộc, họ đang tìm kiếm một phụ nữ trẻ sẵn lòng giúp họ mang nồi súp đến cho người bệnh (CCD IX, 473). Đối với ngài, việc tiếp xúc trực tiếp với người nghèo là điều thiết yếu. Khả năng người khác làm việc đó đe dọa đến sự sụp đổ của các Hội Huynh đệ. Ngài đã chia sẻ những suy nghĩ này với Thánh Louise:

“Nếu bây giờ các bà miễn cho mỗi người trong Hội Bác ái nghĩa vụ nấu súp thịt, các bà sẽ không bao giờ có thể khôi phục lại thực hành này nữa. Nếu các bà nấu ở nơi khác và ai đó nhận làm việc đó vì lòng bác ái ngay bây giờ, nó sẽ trở thành gánh nặng cho người đó trong thời gian ngắn. Nếu các bà thuê người làm việc đó, nó sẽ tốn rất nhiều tiền. Rồi, theo thời gian, các quý bà trong Hội Bác ái sẽ nói rằng người phụ nữ mà chuẩn bị thức ăn cũng là người mang súp đến cho người bệnh, và bằng cách này, Hội Bác ái của các bà sẽ bị suy tàn” (CCD I, 70). Đây chính là điều dẫn đến sự thành lập của Tu Hội Nữ Tử Bác Ái.

Như đã nói ở trên, chính sự gặp gỡ của nhiều người khác nhau vào những thời điểm khác nhau đã dẫn đến việc thành lập Tu Hội Nữ Tử Bác Ái. Cho đến nay, chúng ta đã nói về Thánh Vinh Sơn, Thánh Louise, các Nữ Tử Bác Ái, các linh mục quản xứ của các giáo xứ ở Paris… nhưng một phụ nữ trẻ khác, Marguerite Naseau de Suresnes, lại đóng vai trò then chốt khi nói về Tu Hội Nữ Tử Bác Ái. Marguerite được biết rằng có một Hội Huynh đệ ở Paris chuyên chăm sóc người nghèo bệnh tật. Cô đến đó với mong muốn tham gia vào công việc đó.

Các đấng sáng lập luôn nhắc đến cô như là Nữ Tử Bác Ái đầu tiên (CCD:IX:66) mặc dù cô đã qua đời trước khi Tu hội được thành lập. Tấm gương cuộc đời của cô đã thu hút nhiều thiếu nữ  khác noi theo bước chân cô. Vì vậy, vào năm 1633, Thánh Vinh Sơn và Thánh Louise quyết định tập hợp một nhóm các thiếu nữ để khởi xướng một lối sống mới, một lối sống mà trong đó những người thiếu nữ này sẽ hiến dâng trọn vẹn bản thân cho Chúa Giêsu Kitô để phục vụ Ngài nơi người nghèo.

Bản sắc ơn gọi của các Nữ Tử Bác Ái là kết quả làm việc và sự tinh tế của thánh Louise, Thánh Vinh Sơn, cô Marguerite Naseau và các thành viên đầu tiên của nhóm, tất cả đều được Thánh Linh thúc đẩy, hiểu được rằng là một người Kitô hữu là sống trong thế giới này bằng cách làm những gì Chúa Giêsu đã làm: phục vụ và rao giảng Tin Mừng cho người nghèo.

Nhưng tính đặc thù của cách thức hiến dâng bản thân cho Chúa này dựa trên kinh nghiệm mà những người phụ nữ trẻ này đã sống. Luật Chung đầu tiên của Tu hội được hình thành từ trực giác của các đấng sáng lập, cũng như từ việc lắng nghe những Nữ Tử Bác Ái đầu tiên đã chia sẻ kinh nghiệm của họ. Chẳng phải đây là bước đi trong tinh thần hiệp hành hay sao?

Để khẳng định điều này, chúng ta dựa vào các buổi đàm luận của Thánh Vinh Sơn Phaolô dành cho các Nữ Tử Bác Ái. Bản thân các buổi đàm luận là thời gian để tham gia. Thánh Vinh Sơn chủ trì các buổi đàm luận, cùng với cha Portail hoặc một linh mục khác của Tu Hội Truyền Giáo, người thay thế ngài trong trường hợp vắng mặt.

Như Mezzadri nói, điều quan trọng là phải ghi nhớ tất cả những điều này để hiểu được thể loại văn học đặc biệt của các buổi đàm luận. Chúng chứa đựng những lời của Thánh Vinh Sơn, nhưng chúng không hoàn toàn là tác phẩm của riêng ngài. Chúng được viết chung bởi cộng đoàn, đấng sáng lập, dù là Thánh Vinh Sơn hay Thánh Louise, các biên tập viên khác nhau và sự nhất tâm của các Nữ Tử khác. Mặc dù cố gắng che giấu bản thân, Thánh Louise vẫn tự bộc lộ mình qua bản chất các câu trả lời của bà. Trong những can thiệp của bà, người ta có thể nhận thấy sự nắm bắt rành mạch về chủ đề. Bà sống theo linh đạo của mình và thành công trong việc chuyển dịch nó thành những khái niệm sâu sắc và rõ ràng.”[3]

Có vẻ như khi chọn chủ đề, Thánh Vinh Sơn đã dựa vào các sự kiện, nhu cầu của Tu hội và những gợi ý của Thánh Louise de Marillac (CCD IX, xi). Phương pháp được áp dụng rất đơn giản: một thông báo được gửi đến các nhà khác nhau ở Paris và vùng lân cận, nêu rõ chủ đề, các điểm chính của buổi đàm luận, ngày và giờ.

Đến giờ hẹn, Thánh Vinh Sơn cầu nguyện xin Chúa Thánh Thần hiện diện và buổi họp bắt đầu. Đó không phải là một bài diễn thuyết độc thoại của Thánh Vinh Sơn, mà các Nữ Tử sẽ đặt câu hỏi, đưa ra nhận xét, khiêm nhường về những lỗi lầm của mình. Trong nhiều trường hợp, đó là những biểu lộ cảm động  tập thể về thiện chí, điều mà vị thánh đã khơi gợi bằng những câu hỏi của mình (CCD IX, xii).

Ngày 26 tháng 4 năm 1643, Thánh Vinh Sơn đã khai mạc một phương pháp mới. Ngài nói với các Nữ Tử: Trong các buổi đàm luận trước đây, tôi nhận thấy các chị em cần sự giúp đỡ để tìm ra động cơ hoặc lý do cho những điều đã được gợi ý cho các chị em. Vì vậy, tôi cảm thấy sẽ tốt hơn nếu thay đổi phương pháp để giúp các chị em dễ hiểu hơn những điều sẽ được giảng dạy, và điều này sẽ giúp ích rất nhiều cho các chị em trong việc nguyện gẫm. Tôi sẽ sử dụng phương pháp hỏi thưa như trong các bài học giáo lý (CCD IX, 78). Một số Nữ Tử đầu tiên biết đọc, vì vậy họ đã viết lại những suy tư của mình để chia sẻ, nhưng nhiều người trong số họ mù chữ (ở Pháp thời đó, tỷ lệ mù chữ ở phụ nữ là 86%) và không biết cách diễn đạt bản thân. Phương pháp mà vị thánh sáng lập khởi xướng đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đối thoại, vì ngài sẽ giải thích chủ đề rồi trực tiếp đặt câu hỏi: “Vậy, thưa Sơ… còn Sơ, Sơ nghĩ sao?” (CCD IX, 79).

Đó không phải là một cuộc thẩm vấn khó khăn, và các Sơ đã bày tỏ suy nghĩ của mình một cách giản dị và tự nhiên. Thánh Vinh Sơn đã tán thành, chúc mừng các Sơ và được khích lệ, như ngài đã nói trong một dịp: “Chúc tụng Thiên Chúa, các Sơ ơi! Các Sơ thấy đấy, các Sơ thực sự phải nỗ lực suy ngẫm kỹ lưỡng về chủ đề được đưa ra cho các buổi đàm luận để chúng có ích cho các Sơ. Buổi đàm luận cuối cùng mà tôi tham dự đã an ủi tôi rất nhiều; mỗi Sơ đều chia sẻ suy nghĩ của mình một cách chân thành, và đối với tôi, chúng giống như những tia lửa nhóm lên một ngọn lửa lớn – như một ngọn nến thắp sáng những ngọn nến khác. Sẽ thật hữu ích biết bao nếu các Sơ cũng hành động như vậy!” (CCD IX,186).

Hiện nay, có 120 bài đàm luận của Thánh Vinh Sơn dành cho các Nữ Tử được lưu giữ, và điều này cũng có thể thực hiện được nhờ công sức chung của Thánh Louise và một số Nữ Tử, ví dụ như Sơ Hellot. Trong các bài đàm luận, Thánh Louise và những Nữ Tử biết chữ sẽ ghi chép lại. Sau khi bài đàm luận kết thúc, họ vội vàng sao chép lại một cách trung thực nhất có thể. Họ cũng thu thập các ghi chép của những người được Thánh Vinh Sơn hỏi, và chính ngài đã đưa cho họ những dàn ý của mình. Trong một số trường hợp, sau khi bài đàm luận được sao chép xong, họ sẽ đưa cho cha Vinh Sơn để ngài sửa chữa những chỗ cần thiết. Đây là cách ngài diễn đạt trong một bức thư của mình: “Đính kèm là bản tóm tắt bài đàm luận của các Sơ thân yêu của chúng ta, do Sơ Hellot thân yêu viết ra. Tôi vừa đọc một phần và phải thú nhận rằng tôi đã rơi nước mắt ở hai hoặc ba chỗ. Nếu các chị em không đến sớm, hãy gửi lại cho chúng tôi sau khi các chị em đọc xong” (CCD III, 28).

Các bài đàm luận này thể hiện tinh thần hiệp hành mà các đấng sáng lập của chúng ta đã có. Những cuốn sách này chứa đựng lời dạy của Thánh Vinh Sơn, nhưng như chúng ta đã nói, chúng không hoàn toàn là tác phẩm của riêng ngài. Chúng được viết chung bởi cộng đoàn, bởi cha thánh và mẹ thánh, các biên tập viên khác nhau và nhóm các Nữ Tử khác, và từ việc xác định chủ đề đến khâu biên tập cuối cùng, đó là một tác phẩm chung mà ngày nay tạo thành một trong những kho báu tinh thần vĩ đại nhất mà các Nữ Tử Bác Ái có được.

Qua việc đọc các buổi đàm luận, chúng ta có thể thấy Tu hội đã phát triển từng chút một với sự tham gia của tất cả mọi người. Trong đó, chúng ta cũng có thể khám phá rõ ràng sứ mệnh của các Nữ Tử Bác Ái cũng như ý thức hiệp thông mà họ mong muốn sống từ thuở ban đầu.

Hiện nay, Tu hội mong muốn theo đuổi một cách năng động và đầy hy vọng cam kết của mình đối với tính hiệp hành phù hợp với tiến trình hiệp hành được khởi xướng trong Giáo hội. Đó là một lời mời đối thoại để cùng nhau phân định ở mọi cấp độ.[4]

Hiện nay, các Nữ Tử Bác Ái đã xác định rõ sứ mệnh của mình trong Chương II của Hiến pháp có tựa đề Ơn gọi và Sứ mệnh của Tu hội. Điều 7 nêu rõ: “Các Nữ Tử Bác Ái, trung thành với phép rửa tội và đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa, hiến dâng trọn vẹn và cùng nhau phục vụ Chúa Kitô nơi anh chị em nghèo khó, với tinh thần Tin Mừng về khiêm nhường, đơn sơ và bác ái. Các đấng sáng lập luôn coi đời sống cộng đoàn là nền tảng không thể thiếu cho sứ vụ. Ngày nay, cũng như trong quá khứ, các Nữ Tử muốn sống trong tình huynh đệ và hiệp thông, theo cách này, cộng đoàn trở thành một sự hiệp thông nơi mỗi người cho đi và nhận lại, và nơi mỗi Nữ tử đặt tất cả những gì mình có và tất cả những gì mình là để phục vụ người khác” (Hiến pháp, điều 32b) và “muốn noi theo hình ảnh Chúa Ba Ngôi, như mong muốn của các đấng sáng lập, những người đã muốn các Nữ Tử hiệp nhất trong lòng và hành động cùng một tinh thần” (Hiến pháp, điều 32a).

Sự tham gia được hiểu là sự chia sẻ không chỉ về điều kiện vật chất mà còn cả về cam kết tinh thần và tông đồ. Trong đối thoại, kinh nghiệm được chia sẻ, sự khác biệt được giảm thiểu, và các quyết định được cùng nhau tìm kiếm (Hiến pháp, điều 34).

Sứ vụ chung từ thuở ban đầu

Chúng ta đã thấy tính hiệp hành được thể hiện như thế nào trong ba tổ chức đầu tiên do các thánh của chúng ta ta thiết lập. Giờ đây, chúng ta sẽ xem xét một khía cạnh khác đã được thể hiện ngay từ đầu, đó là “sứ vụ chung”.

Số 32 của Lumen Gentium nói rằng: Vì vậy, nếu mọi người trong Giáo hội không cùng đi trên một con đường, thì tất cả đều được mời gọi đến sự thánh thiện và đã nhận được đặc ân đức tin như nhau nhờ công chính của Thiên Chúa… tất cả đều chia sẻ sự bình đẳng thực sự về phẩm giá và hoạt động chung cho tất cả các tín hữu để xây dựng Thân Thể Chúa Kitô. Ý thức về sự bình đẳng, phẩm giá và hành động chung này trong tất cả mọi người — giáo dân, linh mục và tu sĩ — là rất rõ ràng đối với Thánh Vinh Sơn.

 Đối với ngài, điều quan trọng là chăm sóc người nghèo và vì điều này, thánh nhân dựa vào tất cả những người tham gia vào các sáng kiến ​​của mình và ngài liên kết với những người khác thuộc các hội dòng hoặc các tổ chức giáo hội khác vì cùng mục đích. Theo nghĩa này, chúng ta có thể nói rằng đặc sủng Vinh Sơn được sinh ra một cách hiệp hành, trong một sứ mệnh chung. Để minh họa điều này, chúng ta sẽ xem xét hai tình huống cụ thể trong việc chăm sóc người nghèo diễn ra trong thời của các đấng sáng lập: chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện Hotel Dieu và hoạt động vì các nạn nhân chiến tranh. Tóm lại, chúng ta sẽ thấy hai hình thức phục vụ này được tổ chức như thế nào để đáp ứng các nhu cầu cụ thể.

Chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện Hôtel-Dieu

Năm 1634, các Hội Huynh đệ đã được thành lập ở Paris tại một số giáo xứ và Tu Hội Nữ Tử Bác Ái cũng đã được thành lập.

Chính trong năm này, bà Goussault, một Quý bà Bác Ái đến thăm người bệnh tại Hôtel-Dieu, khi thấy tình trạng thảm khốc của họ, đã nảy ra ý tưởng thành lập một Hội Huynh đệ Bác Ái chuyên dành riêng cho việc chăm sóc Bệnh viện này, và đã nhờ Thánh Vinh Sơn thúc đẩy và chỉ đạo công việc.

Tình trạng của bệnh viện này rất đáng thương. Mỗi ngày có từ 50 đến 100 người nghèo được tiếp nhận và theo Abelly, mỗi năm có từ 20 đến 25 nghìn người được điều trị.[5]

Việc hỗ trợ tinh thần là trách nhiệm của các kinh sĩ của nhà thờ chính tòa gần đó, giao phó việc này hàng năm cho hai thành viên của hội. Tu hội Thánh Thể cũng tham gia, cử một linh mục và một giáo dân mỗi ngày đến chăm sóc tinh thần kể từ năm 1632, và trong bệnh viện cũng có sự hiện diện của cộng đoàn các nữ tu dòng Augustinô.

Theo Azcarate,[6] vào năm 1634, Genoveva Fayette, bà Goussault, một thành viên tích cực của Hội Bác ái tại giáo xứ của mình và đã đến thăm Hôtel-Dieu một thời gian và than thở về tình trạng của nó, đã đến gặp Thánh Vinh Sơn để đề xuất thành lập một kiểu Hội khác nhằm hiện diện lòng bác ái giữa những người nghèo. Tuy nhiên, Vinh Sơn không muốn can thiệp vào trách nhiệm của các kinh sĩ của Nhà thờ Đức Bà Paris, vì vậy ngài đã từ chối đề xuất này. Người phụ nữ kiên trì tiếp tục nỗ lực và đến gặp Đức cha Jean-François de Gondi, Tổng Giám mục Paris, để trình bày kế hoạch của mình. “Hãy để tôi xem tôi có thể làm gì,” vị giám mục trả lời, “Tôi sẽ nói chuyện với cha Vinh Sơn và, nếu cần thiết, tôi sẽ ra lệnh cho cha ấy thành lập một hội mà như bà đã nói với tôi. Theo tiêu chí thông thường của mình, Thánh Vinh Sơn coi quyết định này của đức tổng giám mục là sự thể hiện ý muốn của Chúa và bắt tay vào công việc”.

Sau hai cuộc gặp gỡ với một số quý bà và một số phụ nữ khác tham gia cùng họ, Hội Huynh đệ này được thành lập với Thánh Vinh Sơn làm giám đốc thường trực và bà Goussault làm chủ tịch. Một trợ lý và một thủ quỹ cũng được bầu chọn. Ban quản lý bệnh viện, biết rằng đức giám mục ủng hộ công việc này, đã cho phép các quý bà đến thăm. Họ cũng đóng góp tài chính để trang trải tất cả các chi phí phát sinh từ dịch vụ này.Trong số các thành viên của Hội Huynh đệ này có các nữ hoàng, công chúa, những quý bà thuộc tầng lớp thượng lưu của Paris, bao gồm bốn vị sáng lập các hội dòng. Các chức vụ này chỉ là tạm thời và việc bầu chọn được tiến hành trong các buổi lễ của một đại hội.

Họ đến thăm người bệnh mỗi ngày, mỗi lần bốn người, và sau khi cầu nguyện, họ đến gặp các nữ tử của bệnh viện để dâng hiến sức mình trong việc phục vụ này.

Ngay từ đầu, họ đã dựa vào sự cộng tác của các Nữ Tử Bác Ái để chăm sóc trực tiếp người bệnh. Chính Thánh Vinh Sơn đã viết thư cho Thánh Louise rằng chúng ta sẽ cần đến bà và các Nữ Tử của bà (CCD I, 231). Họ sớm bắt đầu phục vụ tại bệnh viện, đi lại liên tục (CCD I, 290). Ngay trong tháng 12 năm 1636, các Nữ Tử đã định cư tại một ngôi nhà cạnh Hôtel Dieu (tên bệnh viện), một ngôi nhà được các Nữ Tử Bác Ái thuê cho họ. Thánh Vinh Sơn đã viết thư cho Louise và nói: Chúa chúc lành cho bà, thưa bà, vì đã đến đặt các Nữ Tử của bà tại Hôtel Dieu và vì tất cả những gì đã xảy ra sau đó! (CCD I, 363).

Năm 1636, một nhóm gồm mười bốn người, chỉ toàn là các quý bà góa chồng hoặc đã kết hôn, được thành lập. Với sứ vụ chuẩn bị cho người bệnh xưng tội chung, mỗi người trong số các quý bà này phải dành vài giờ mỗi tuần cho người bệnh (từ hai đến năm giờ chiều). Họ sẽ đi theo cặp (sau khi đã chuẩn bị tinh thần bằng cách đi lễ và rước lễ vào buổi sáng, rồi đến viếng nhà nguyện của bệnh viện khi đến nơi) và một trong các nữ tu dòng Augustinô sẽ chỉ ra cho họ những người nào ốm nặng nhất. Sau khi thăm viếng, họ trở lại nhà nguyện để tạ ơn. Họ được các linh mục của Tu Hội Truyền Giáo và những người khác hỗ trợ việc xưng tội của các bệnh nhân.

Nội quy của Hội các Quý bà Hôtel-Dieu (CCD:XIIIb:443-447) mô tả rõ ràng mục đích của Hội Huynh đệ này, của các thành viên, và chức năng của mỗi người và hoạt động nói chung. Chúng ta có thể thấy rằng điều này liên quan đến một sứ vụ chung theo kiểu đồng nghị (hiệp hành) khi các thành viên phục vụ nhu cầu thể xác và tinh thần của người nghèo ốm bệnh ở Paris.

Hành động phục vụ các nạn nhân chiến tranh

Chiến tranh Ba mươi năm đã đẩy nước Pháp vào vòng xoáy thảm họa, gây ra nạn đói, nghèo khổ, nhục nhã và cái chết cho nhiều người vô tội trong nhiều năm…

Từ năm 1636 đến năm 1643, một trong những chiến trường chính là Công quốc Lorraine. Từ năm 1635 đến năm 1643, có tới 150.000 binh lính từ các đội quân khác nhau đóng trại ở vùng biên giới này để tìm kiếm lương thực và gây ra những hành động tàn bạo nhất. Nhà thờ bị xúc phạm, mùa màng bị cướp phá và toàn bộ làng mạc bị đốt cháy. Dịch bệnh và nạn đói ngày càng gia tăng.

Theo Román[7], những tin tức đầu tiên về sự tàn phá của Lorraine được thông tin cho Thánh Vinh Sơn là  từ các nhà truyền giáo trong một nhà của Tu hội ở Toul (thành lập năm 1635). Không cần chờ lệnh, họ đã tự nguyện phục vụ các nạn nhân. Họ đã chuyển đổi một phần ngôi nhà của mình thành bệnh viện, chứa từ 40 đến 60 người bệnh. Ở một nơi khác, họ chăm sóc thêm từ 100 đến 150 người khác.

Sau khi cố gắng thuyết phục Hồng y Richelieu ngừng chiến tranh mà không thành công, Thánh Vinh Sơn bắt tay vào việc cố gắng giúp đỡ nhiều nhất có thể. Ngài nhanh chóng nhận ra rằng mình cần có số tiền mà mình không có và đã sắp xếp những việc sau:

Gây quỹ: Hội các bà Bác ái đã đảm nhiệm việc gây quỹ và quyên góp được một khoản tiền đáng kể từ tiền túi của mình và từ các vị chức sắc cao cấp mà họ đến cầu xin, ví dụ như nhà vua. Thánh Vinh Sơn ước tính rằng cần 2.500 bảng Anh mỗi tháng và công việc của Hội các bà Bác ái đã giúp quyên góp được số tiền này.

Việc phân phối hàng cứu trợ là công việc của các nhà truyền giáo. Thánh Vinh Sơn đã bổ sung thêm mười hai linh mục và giáo sĩ giỏi nhất của mình vào đội ngũ truyền giáo đóng tại Toul, cùng với các anh em Vinh Sơn lành nghề về phẫu thuật và y học. Họ được bố trí tại bảy điểm chiến lược và ngài đã chỉ định một người giám sát công việc của họ. Viện trợ cơ bản bao gồm thực phẩm, bánh mì và súp, trên hết là thuốc men và quần áo. Hàng ngàn người đến mỗi ngày để nhận trợ giúp.

Nạn đói đã làm gia tăng số người bệnh. Nhiều người bệnh được các nhà truyền giáo đưa vào nhà ở của họ tại Toul và Nancy. Ở những nơi khác, chẳng hạn như Barle-Duc và chính Nancy, họ được đưa vào bệnh viện, nơi các nhà truyền giáo gửi quần áo, thuốc men và thực phẩm. Những người ở trong nhà cũng không bị bỏ mặc.

Họ cũng chăm sóc những phụ nữ trẻ có nguy cơ bị hãm hiếp, cũng như các nữ tu dòng kín (những người cũng có nguy cơ tương tự). Những nữ tu này lâm vào cảnh túng thiếu vì không có tiền bố thí, nhưng Thánh Vinh Sơn rất quan tâm đến việc giúp đỡ họ bằng cách gửi tiền và các loại viện trợ khác.

Các nhà truyền giáo cũng cung cấp sự trợ giúp về mặt tinh thần. Họ dành nhiều giờ để giảng đạo, dạy giáo lý và cử hành các bí tích, thậm chí còn đi truyền giáo (đại phúc).

Thông tin liên lạc: Các báo cáo về nhu cầu của các khu vực bị chiến tranh tàn phá đã thúc đẩy mọi người gửi tiền và vật phẩm đến tu viện St. Lazare. Thánh Vinh Sơn đã ra lệnh cho các nhà truyền giáo yêu cầu biên lai khi phân phát tiền bố thí. Ngài cũng nhận được thư cảm ơn và ghi nhận về công việc mà các anh em Vinh Sơn đang làm. Mặc dù không thích tất cả những điều này, ngài quyết định tận dụng nó bằng cách để có sự quyên góp nhiều hơn. Mỗi tháng, ngài đều đọc cho các quý bà ở Paris nghe số tiền đã được phân phát, từ đó khuyến khích họ kiên trì trong nỗ lực của mình. Ngài đã gửi đến nhiều nơi những bức thư đầy xúc động để khơi dậy lòng thương cảm của giới giàu có bằng cách kể về biết bao nỗi khổ đau và liên tục thông báo cho các nhà hảo tâm về hiệu quả của những khoản quyên góp của họ. Những bức thư được truyền tay nhau, nhờ đó mà các khoản đóng góp cho công tác cứu trợ chiến tranh đã được nhân lên gấp bội.

Liên lạc: Công việc này được thực hiện bởi Thầy tu huynh Matthew Regnard, biệt danh là “con cáo” vì sự khôn ngoan tuyệt vời của ông. Thánh Vinh Sơn đã yêu cầu thầy mang tiền từ Paris đến các vùng chiến sự. Thầy đã phải vượt qua nhiều nguy hiểm trong 54 chuyến đi của mình, nhưng với sự táo bạo,Thầy đã vượt qua tất cả. Theo Román,[8] Thầy đã vận chuyển và phân phối tới 1,5 triệu bảng Anh, giúp cứu trợ cho rất nhiều người bị ảnh hưởng bởi chiến tranh.

Chiến tranh cũng tạo ra nhiều người lưu vong. Tại La Chapelle, ở ngoại ô Paris và không xa nhà thờ Thánh Lazarus, một trại tị nạn đã được thiết lập. Thánh Vinh Sơn đã cho các linh mục của mình và các linh mục của Hội thảo ngày Thứ Ba làm ba cuộc đại phúc cho họ: vào năm 1639, 1641 và 1642.

Trong những năm 1650-1659, chiến tranh đã tàn phá các khu vực Picardy và Champagne. Ở đó, cha Vinh Sơn cũng đã tổ chức cứu trợ như ngài đã làm ở Lorraine. Các Bà Bác ái tiếp tục đóng góp tài chính và Thánh Vinh Sơn lặp lại cách thức thông báo cho mọi người về những gì đang xảy ra… lần này xuất bản các tập thông tin đến khắp Paris và khuyến khích mọi người đóng góp cho những nỗ lực cứu trợ này. ngài cử các nhà truyền giáo đến những vùng này để phân phát vật tư và cung cấp hỗ trợ tinh thần. Các cha và các thầy Vinh Sơn được giúp đỡ bởi các Nữ Tử Bác Ái, các tình nguyện viên khác và những người được trả tiền để làm việc đó giúp đỡ. [9]

Các anh em Tu Hội Truyền Giáo cũng tổ chức cứu trợ cho người ốm và bị thương, và trong việc này họ dựa vào sự giúp đỡ của các Nữ Tử BÁC ái. Họ cũng bắt đầu một công việc khác, khá lạ lẫm vào thời đó: chăm sóc sức khỏe trong các bệnh viện quân y. Theo yêu cầu của Nữ hoàng, họ phụ trách các bệnh viện ở Châlons, Sainte Menehould, Sedan, La Fère, Stenay và, sau Trận chiến Cồn cát (Battle of the Dunes), bệnh viện ở Calais.

Tất cả những hoạt động này vì các nạn nhân chiến tranh cho phép chúng ta hiểu được tài năng tổ chức của Thánh Vinh Sơn và cách ngài đã có thể huy động vô số cá nhân tham gia vào nỗ lực cung cấp cho các nạn nhân chiến tranh cả về vật chất và tinh thần. Những nỗ lực này cũng cho thấy làm thế nào có thể cùng nhau bước đi trong một sứ mệnh chung, mỗi người hành động theo ơn gọi của mình nhưng cống hiến những tài năng của mình cho tất cả mọi người… nhờ đó làm cho Nước Thiên Chúa hiện hữu giữa những người nghèo.

Lm Phêrô Phạm Minh Triều, CM chuyển ngữ từ famvin.org

[1] Louis Abelly, The Life of the Venerable Servant of God Vincent de Paul: Founder and First Superior General of the Congregation of the Mission, 3 volumes, edited by John E. Rybolt, CM, translated by William Quinn, FSC, notes by Edward R. Udovic, CM and John E. Rybolt, CM, introduction by Stafford Poole, CM, New City Press, New Rochelle, New York, 1993, II:287.

[2] Ibid., CCD I, 131.

[3] L. Mezzadri, “Las Conferencias de San Vicente a las Hermanas [The Conferences of St. Vincent to the Sisters]” tại https://vincentians.com/es/las-conferencias-de-san-vicente-a-las-hermanas/

[4] Inter-Assembly Document of the Daughters of Charity (2021-2027), p. 10.

[5] ABELLY, op.cit., I:154.

[6] S. Azcárte, “La sangre azul de la caridad” [The Blue Blood of Charity]” trong Vicente de Paúl, un gran innovador [Vincent de Paul, a Great Innovator] Salamanca 2012, 355-405.

[7] Román, op.cit., pp. 509-524 và 569-590.

[8] Ibid.

[9] Ibid.