Tinh Thần Truyền Giáo Vinh Sơn Hôm Qua Và Hôm Nay
Cao Viết Tuấn dịch từ “The Vincentian Missionary Spirit, Yesterday and Today”, của cha Robert P. Maloney, C.M. – Cựu Bề trên Tổng quyền, đăng trên Vincentiana, số 4-5 (tháng 7-10, năm 1997)
Tôi xin kêu mời anh em cùng tôi nghiền ngẫm cái tên của chúng ta. Thánh Vinh Sơn nhắc chúng ta rằng: ngay từ đầu, dân chúng đã gọi chúng ta là “các nhà truyền giáo” một cách tự phát.[1] Chúa sai phái chúng ta. Ơn gọi của chúng ta không phải để ở một nơi duy nhất, để bám rễ lâu dài. Chúa Giêsu nói với chúng ta cũng như Ngài đã nói với các tông đồ ở cuối Tin Mừng Máccô: Hãy ra đi! Hãy đi khắp thế giới và rao giảng Tin Mừng cho mọi loại thụ tạo.[2]
Việc truyền giáo không đơn thuần là một hoạt động của Giáo hội; nó chính là sự hiện hữu của Giáo hội. Xuyên suốt dòng lịch sử của Giáo hội, việc truyền giáo mang nhiều hình thức: rao truyền, giảng dạy, làm chứng tá, thập tự chinh, đối thoại, khuyên bảo, đồng hành, giải phóng, hội nhập văn hoá.
Vậy, là một nhà truyền giáo Vinh Sơn có nghĩa là gì? Đây là câu hỏi thiết yếu đối với chúng ta, vì nó đụng chạm đến căn tính của chúng ta. Không có gì nghi ngờ về ơn gọi của chúng ta: tất cả chúng ta là thành viên của Tu hội Truyền giáo; tất cả chúng ta là các nhà truyền giáo.
Một số đặc tính của nhà truyền giáo Vinh Sơn
Tôi xin sơ lược một vài đặc tính của nhà truyền giáo Vinh Sơn. Chắc chắn còn nhiều đặc tính khác nữa. Tôi khuyến khích anh em bổ sung vào danh sách này bằng chính suy tư của anh em.
1. Lưu động, nhiệt tâm gieo rắc Tin Mừng
Không có gì rõ ràng hơn trong Tân ước: Chúa Giêsu đến từ Chúa Cha và trở về với Chúa Cha,[3] nguồn mạch của toàn bộ sứ vụ. Ngài dấn thân vào một thừa tác vụ lưu động. Ngài truyền các các môn đệ châm ngôn: Hãy đi khắp thế giới và rao giảng Tin mừng cho mọi loại thụ tạo.[4]
Thánh Vinh Sơn đã nói hùng hồn về sự cần thiết của việc lưu động: “Hãy tưởng tượng Ngài nói với chúng ta: ‘Hãy ra đi, các nhà truyền giáo, hãy ra đi. Này, sao còn ở đây? Hãy nhìn các linh hồn đáng thương đang đợi các con, ơn cứu độ của họ phụ thuộc vào việc rao giảng và dạy giáo lý của các con’!”[5] Thánh nhân nhắc nhở Tu hội tấm gương các nhà truyền giáo vĩ đại của các Hội dòng khác, những người đã đến Ấn độ, Nhật bản, Canada “để hoàn tất công trình Chúa Giêsu đã khởi sự trên thế giới và không bao giờ bỏ mặc từ giây phút Ngài được gọi.”[6]
Giáo hội hiện hữu để phúc âm hoá, để công bố rằng Đức Giêsu là Chúa. Vậy, chúng ta cũng làm thế. Điều này có nghĩa chúng ta sẽ mau chóng, nhanh nhẹn di chuyển khi có những nhu cầu mới. Tình yêu của chúng ta sẽ lan rộng như ngọn lửa. Chúng ta sẽ muốn nói cho mọi người Tin Mừng, đó là Chúa Giêsu đang sống và hiện diện.
Một trong những dấu hiệu chính yếu cho thấy chúng ta có tinh thần truyền giáo lưu động đó là sẵn sàng rời khỏi những nơi Giáo Hội đã được thiết lập vững chãi và những nơi đang có người coi sóc, để được tự do cho những nhu cầu thách đố hơn ở những nơi xa xôi hẻo lánh không ai đến được, những nơi hiện đang bị bỏ mặc.
2. Là người loan báo Tin Mừng
Trọng tâm sứ vụ của chúng ta là Phúc Âm hoá, mà theo truyền thống Công giáo, nó luôn mang một ý niệm rộng lớn, bao quát.[7] Như Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã chỉ ra: “Phúc Âm hoá là một tiến trình liên hợp bao gồm nhiều yếu tố khác nhau: canh tân đời sống nhân bản, làm chứng tá, rao giảng rõ ràng…”[8]
Thánh Vinh Sơn nói rằng Phúc Âm hoá bao gồm “lời nói và việc làm.” Chúng ta phải làm trước rồi khi đó mới dạy. Với thánh nhân, Phúc Âm hoá không chỉ bằng việc rao giảng mà còn bằng hành động nữa. Ngài mời gọi các thành viên Tu hội Truyền giáo lẫn Nữ tử Bác ái phục vụ người nghèo “về mặt tinh thần lẫn thân xác”.
Dưới ánh sáng giáo huấn của thánh Vinh Sơn, việc Phúc Âm hoá của chúng ta sẽ hoàn toàn sống động khi chúng ta rao giảng Tin Mừng:
a) bằng ngôn ngữ của việc làm[9]: được thực hiện thông qua các việc công bằng và bác ái như là những dấu chỉ của Nước Trời đang ngự trị sống động giữa chúng ta;
b) bằng ngôn ngữ của lời nói: rao truyền bằng xác tín sâu xa sự hiện diện của Chúa, tình yêu thương và tha thứ của Ngài dành cho mọi người;
c) bằng ngôn ngữ của tương quan: ở với người nghèo, làm việc với người nghèo, xây dựng một cộng đoàn cho thấy tình yêu của Chúa dành cho mọi người.
3. Có nhãn quan quốc tế, một thế giới quan mang tính toàn cầu
Đó chính là những gì thánh Vinh Sơn nhìn về sứ vụ của mình. Trong thời kì mà việc đi lại rất khó khăn và hầu hết mọi người đều qua đời chỉ trong vài dặm xung quanh nơi chôn nhau cắt rốn, thánh Vinh Sơn đã gởi các nhà truyền giáo đi đến Ba Lan, Ý, Algeri, Madagascar, Ireland, Scotland, Hebrides, Orkneys. Chính bản thân ngài, khi đã về già, cũng ao ước đi đến Ấn độ.[10]
Đặc biệt, có hai dấu chỉ cho thấy ý thức về tính toàn cầu nơi chúng ta.
Dấu chỉ thứ nhất, dấu chỉ cụ thể của ý thức này là khả năng đáp ứng những nhu cầu cấp bách trên khắp thế giới. Chúng ta không bao giờ để cho những ràng buộc với Tỉnh dòng níu giữ chúng ta lại. Với sự tự do, chúng ta phải đi đến bất cứ nơi nào mà nhu cầu của Giáo Hội to lớn hơn.
Dấu chỉ thứ hai của ý thức quốc tế đó là sự liên đới giữa các tỉnh dòng của chúng ta. Tôi thúc giục anh em hợp tác với nhau. Điều này đang diễn ra trong các cuộc gặp gỡ quốc gia và vùng, nhưng tôi đặc biệt mong muốn khuyến khích anh em hợp tác với nhau trong việc làm tuần đại phúc, đào tạo các nhà truyền giáo và trợ giúp các tỉnh dòng nghèo hơn. Có những việc chúng ta sẽ làm tốt hơn nhiều nếu hợp tác với nhau so với làm riêng lẻ.
Như Karl Rahner vẫn thường nêu ra, chỉ trong thế kỉ 20 này, Công giáo mới thực sự trở thành một Giáo hội mang tầm thế giới.[11] Sống ở Roma, tôi cảm nhận điều này một cách độc đáo. Đặc biệt với việc mở ra các điểm truyền giáo mới ở những nơi xa xôi như là Tanzania, Đảo quốc Solomon, Albania, Altiplano ở Bolivia, Mozabique, Trung hoa, Kharkiv ở Ukraine, Siberia, chính Tu Hội của chúng ta đang trở nên quốc tế hơn.
Cho dù ngay sau Công đồng Vatican II, người ta nhấn mạnh nhiều hơn đến căn tính, quản trị, và các quy tắc theo Tỉnh dòng, ngày nay ý thức về bản chất truyền giáo toàn cầu của chúng ta đang hồi sinh.
4. Tha thiết học ngôn ngữ của người bản xứ
Thánh Vinh Sơn cảm nhận rất mạnh mẽ nhu cầu học các ngôn ngữ khác. Ngài nói với chúng ta: “Hiện nay ngôn ngữ rất đa dạng, không chỉ ở châu Âu, châu Phi, châu Á, nhưng còn ở Canada. Vì qua tường trình của các cha Dòng Tên, chúng ta thấy có bao nhiêu bộ lạc là bấy nhiêu ngôn ngữ. Người Hunron nói khác với người Iroquois, và người Iroquois cũng nói khác với những người láng giềng của họ. Và người ta có thể hiểu được tiếng nói của một nhóm dân Ấn Độ nhưng không hiểu những nhóm người khác.”[12]
Như vậy, làm thế nào các nhà truyền giáo có thể nói các thứ tiếng khác nhau để đi khắp thế giới rao giảng Tin Mừng nếu chỉ biết duy nhất tiếng nói của họ?
Tổng Đại hội của Tu hội Truyền giáo năm 1992 trong cam kết thứ ba của mình nói về việc đối thoại với xã hội đương đại. Tôi thường xuyên kêu gọi tất cả các ứng sinh và thành viên của Tu hội phải nói được hai ngôn ngữ. Đối thoại và tính lưu động trong xã hội đương đại đòi hỏi điều ấy. Ví dụ như ở Hoa Kì, tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ của khoảng 50% người Công giáo. Tiếng Tây Ban Nha đã trở thành một công cụ thiết yếu cho một nhà truyền giáo ở đây. Điều này cũng tương tự ở các quốc gia khác.
5. Uyển chuyển
Thánh Vinh Sơn thường được miêu tả như là một nhà lãnh đạo tôn giáo quân bình nhất trong thời đại của ngài. Ngài pha trộn lý thuyết với thực hành một cách thành thạo. Trong khi ngài có những nguyên tắc rõ ràng, ngài áp dụng chúng một cách uyển chuyển. Cuộc đời và tác vụ của ngài cho thấy bằng chứng rõ ràng về sự khéo léo khi áp dụng như thế. Ví dụ, ngài kể rằng, đơn sơ là nhân đức mà ngài yêu mến nhất, nhưng ngài cũng biết rất rõ làm sao giữ thinh lặng khi đòi hỏi một cách cương quyết. Ngài tin chắc chắn vào sự quan trọng của sự trung thành với ơn gọi của mình và có những lúc chiến đấu mạnh mẽ để giữ các thành viên đừng rời bỏ thừa tác vụ của họ. Nhưng ngài cũng biết rằng một số thành viên đã bị thoái hoá và ngài tạ ơn Chúa khi họ rời đi, thậm chí có vài lần trục xuất những thành viên như thế.[13]
Nhà truyền giáo đương đại phải có tâm tính mềm dẻo liên quan đến việc Phúc Âm hoá. Trong thời đại thay đổi mau chóng, sự cứng nhắc là kẻ thù và uyển chuyển là đồng minh. Ví dụ, một trong những thay đổi quan trọng diễn ra trong Giáo Hội sau công đồng Vatican II đó là vai trò của giáo dân. Ngày nay, chúng ta chú tâm nhiều hơn đến việc người giáo dân có vai trò thiết yếu trong việc rao giảng Tin Mừng.[14] Vì lý do đó, Hiến pháp của Tu hội Truyền giáo kêu gọi các linh mục và tu huynh của Tu hội không chỉ Phúc Âm hoá người nghèo trong tư cách nhà truyền giáo nhưng còn đào tạo họ – linh mục, tu sĩ nam nữ, giáo dân – tham gia đầy đủ hơn vào việc Phúc Âm hoá người nghèo.[15] Chúng ta có uyển chuyển chấp nhận những vai trò của người giáo dân trong việc Phúc Âm hoá không? Chúng ta có mềm dẻo để cộng tác với họ một cách hài hoà không?
6. Tham gia vào việc tổ chức và huấn luyện người khác phục vụ người nghèo.
Thánh Vinh Sơn rất cương quyết trong vấn đề này. Có ít vị thánh có chương trình huấn luyện và tổ chức cụ thể như thánh Vinh Sơn. Ngài nhận ra việc Phúc Âm hoá toàn diện đòi hỏi tổ chức để người nghèo được phục vụ hữu hiệu. Để hoàn thành mục tiêu này, thánh Vinh Sơn đã sáng lập hai Tu hội và tổ chức nhiều nhóm giáo dân. Các nhà truyền giáo và Nữ tử Bác ái hình thành nên Hội ái hữu Bác ái ở bất cứ nơi đâu họ có mặt.[16]
Ngài đưa các kĩ năng tổ chức vào việc huấn luyện hàng giáo sĩ, điều mà thánh Vinh Sơn đôi khi gọi là “gần như tương đương”[17] hoặc “tương đương”[18] với sứ vụ. Ngài đã tổ chức các cuộc tĩnh tâm cho tiến chức và linh mục, cũng như Hội thảo Ngày Thứ Ba, bên cạnh việc thiết lập 20 chủng viện.
Ngài không dừng lại ở đó. Ngài đưa tất cả các nguồn lực ngài có thể tìm thấy vào việc phục vụ người nghèo: giáo sĩ và giáo dân, trẻ và già, nam và nữ, người giàu và chính người nghèo. Những hạt giống thiên tài tổ chức của ngài tiếp tục nảy nở sau khi ngài qua đời.
Một nghiên cứu gần đây[19] cho thấy có hơn 268 nhóm có chung đặc sủng Vinh Sơn. Hiện tại có 260.000 thành viên của AIC (Các Bà Bác ái), 900.000 thành viên của Hiệp hội Vinh Sơn Phaolô, 200.000 thành viên Giới trẻ Con Đức Mẹ Vinh Sơn với 46.000 chỉ ở Tây Ban Nha và 7.000 ở Mexico.
7. Hội nhập văn hoá
Luôn có một nguy cơ đó là mang những quan niệm, tập tục và lối xây dựng của thế giới này bị đem sang thế giới khác. Các nhà truyền giáo vĩ đại của chúng ta, như thánh Justin de Jacobis và thánh John Gabriel Perboyre, đã nhìn nhận ngay từ đầu rằng điều đó không phù hợp. Tin Mừng phải bám rễ và nảy nở trong những giá trị sâu xa nhất của mỗi nền văn hoá. Đồng thời, nó phải biển đổi những gì không thuộc về Thiên Chúa trong nền văn hoá và những gì chống lại nhân vị.
Karl Rahner chỉ ra rằng việc toàn cầu hoá của thần học là nhu cầu cần thiết nhất của Giáo Hội trong những năm tới. Ông lưu ý rằng cho đến hiện nay thật không may vẫn đang tồn tại khuynh hướng giáo luật hoá, đó chỉ là một cách thể hiện khung tư tưởng của văn hoá phương Tây.[20] Lúc này đây, nhiều tỉnh dòng trẻ đang phát triển và những tỉnh dòng khác đang chịu trách nhiệm đào tạo, đang đối diện với thách đố khó khăn trong việc giảng dạy triết học và thần học (vốn được hình thành trong bối cảnh châu Âu), trong khi tìm kiếm những phạm trù mới trong bối cảnh châu Phi và châu Á hay châu Mỹ Latinh. Tương tự như vậy, họ nghiên cứu những hình thức thích hợp diễn tả đức khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục và sự dấn thân bền bỉ với người nghèo trong các nền văn khoá khác với không chỉ thánh Vinh Sơn mà còn với những tác giả của hầu hết các sách triết học, thần học và thiêng liêng được viết từ trước tới nay. Trong khi giảng đại phúc, chúng ta có biết rõ văn hoá của người trẻ hiện nay không? Chúng ta có thể diễn tả Tin mừng trong những phạm trù đụng chạm đến những khát vọng sâu xa nhất của họ không?
Cũng vậy, vị trí của phụ nữ trong xã hội khác nhau tuỳ theo mỗi nền văn hoá, vùng miền, châu lục. Nói chuyện với phụ nữ trên dường có lẽ là điều tự nhiên ở Los Angeles nhưng lại là xì-căng-đan ở các nước Hồi giáo. Nhà truyền giáo cần phải biết rõ sự khác biệt này.
8. Học hỏi liên tục, rèn luyện một cách sáng tạo phương pháp giảng dạy
Thánh Vinh Sơn nói với chúng ta: “Tình yêu sáng tạo đến vô tận”.[21] Tôi muốn khích lệ tất cả các nhà truyền giáo hãy sáng tạo. Liên tục đặt câu hỏi cho mình và cho cộng đoàn: nhu cầu sâu xa nhất của người nghe bài giảng của tôi là gì? Những người đáng thương này cần gì nơi tôi một cách cụ thể? Những người trong trại tị nạn ở Châu Phi cần gì? Những người đau yếu này đang kêu xin điều gì? Điều gì làm những bệnh nhân Sida này đang đau đớn nhất? Sau đó hãy sáng tạo trong việc diễn giảng Lời Chúa theo những nhu cầu này.
Cuối cùng, tôi kêu gọi anh em tìm ra những phương thức sáng tạo cho việc huấn luyện toàn diện sơ khởi lẫn liên tục. Lối huấn luyện toàn diện này cần mang những chiều kích khác nhau: nhân bản, thiêng liêng, tông đồ, Vinh Sơn, Kinh Thánh, thần học, chuyên môn. Trong mọi mức độ, chính anh em là người chịu trách nhiệm cho việc tự đào luyện mình.
9. Hiểu biết học thuyết xã hội của Giáo hội Công giáo
Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II đã viết rất mạnh mẽ trong Thông điệp Bách chu niên: “Tân Phúc Âm hoá là điều mà thế giới hiện nay đang rất cần và là điều mà tôi đã nhấn mạnh nhiều lần, phải bao gồm các yếu tố căn bản của việc công bố Học thuyết xã hội của Giáo Hội.”[22] So với một trăm năm về trước, hiện nay Giáo hội đang công bố học thuyết này một cách rõ ràng hơn. Người Công giáo đã thực sự được Phúc Âm hoá trong khía cạnh này hay chưa? Có phải học thuyết xã hội là một phần trong lương tâm đúng đắn của người Công giáo? Tôi mong muốn tất cả anh em Tu hội Truyền giáo trở thành chuyên gia trong việc giảng dạy học thuyết xã hội này. Là môn đệ Chúa Kitô, Đấng rao giảng Tin Mừng cho người nghèo, chúng ta phải rao truyền khía cạnh này trong vương quốc Thiên Chúa, bằng lời nói và việc làm của chúng ta. Trước hết, chúng ta phải nắm vững giáo huấn phong phú của Giáo Hội trong cái nhìn về vương quốc của công lý, xoá bỏ những cơ cấu bất công của xã hội, rao giảng rằng người nghèo nắm giữ vị trí trung tâm trong lương tâm của người Kitô hữu. Trong việc huấn luyện dành cho giáo sĩ và giáo dân, chúng ta phải trình bày học thuyết này một cách rõ ràng và cấp bách.
Sứ vụ của chúng ta sẽ mang tính ngôn sứ thực sự trong thế giới hôm nay nếu chúng ta rao truyền và giảng dạy học thuyết xã hội của Giáo Hội một cách rõ ràng. Cũng như nhiều ngôn sứ khác, có thể chúng ta sẽ chịu đau khổ khi làm như thế.
10. Người của Chúa
Nhân chứng nói một cách hùng hồn hơn những lời nói đơn thuần. Đời sống của chúng ta chắc chắn nói lên nhiều điều hơn các bài giảng của chúng ta.
Đối với thánh Vinh Sơn Phaolô, chỉ có một động lực duy nhất: con người của Chúa Giêsu Kitô. “Chúa Giêsu là quy luật của sứ vụ,”[23] Ngài nói với chúng ta, Ngài là trung tâm của đời sống và hoạt động của chúng ta. Thánh nhân viết cho cha Portail, một trong các thành viên đầu tiên của Tu hội: “Hãy nhớ, thưa cha, chúng ta sống trong Chúa Giêsu Kitô nhờ cái chết của Ngài. Chúng ta phải chết trong Chúa Giêsu Kitô bởi sự sống của Ngài. Sự sống của chúng ta phải ẩn kín trong Chúa Giêsu Kitô và toàn bộ Chúa Giêsu Kitô. Và để chết giống Chúa Giêsu Kitô chúng ta phải sống như Ngài.”[24]
Chúng ta chỉ có thể hoàn tất sứ vụ của mình khi chúng ta theo bước Đức Kitô, Đấng rao giảng Tin Mừng cho người nghèo, nghĩa là sống theo tinh thần của Đức Kitô. Hay nói cách khác chúng ta chỉ có thể hoàn tất sứ vụ của mình khi chúng ta sống thánh thiện.
Ngày nay, cũng như trong mọi thời kì, Giáo Hội rất cần các vị thánh. Giáo hội rất cần các nhà truyền giáo đơn sơ, khiêm nhường, hiền lành, khổ chế và đầy tràn tình yêu hữu hiệu. Giáo hội cần các vị giảng thuyết là những người chiếu toả sự hiện diện của Thiên Chúa. Nhà truyền giáo vĩ đại không phải là người có những lời nói hoa mĩ hay thu hút sự chú ý của người khác.
Tôi xin nói rõ: nhà truyền giáo ngày hôm nay phải thánh thiện. Nếu không phải là người của Chúa, chúng ta không thể hữu hiệu thực sự, cũng không thể kiên gan bền chí trước khó khăn thử thách.
Con số các linh mục tu sĩ rời bỏ ơn gọi không phải là lý do để chúng ta lo sợ. Đó cũng không phải sự tổn thất của các dòng tu. Điều khiến chúng ta phải lo sợ thực sự đó là mất đi ngọn lửa trong tâm hồn chúng ta.
Những gì đang đốt cháy tâm hồn nhà truyền giáo thực sự phải là nỗi khao khát sâu xa, niềm ước mong bước theo Đức Kitô, Đấng rao giảng Tin Mừng cho người nghèo.
Nhà truyền giáo thánh thiện đích thực luôn ở trong tình yêu của Chúa Kitô. Người khác có thể cảm nhận được điều ấy. Không ai có thể che giấu được cho dù người ấy muốn làm thế.
Là các nhà truyền truyền giáo, đó là ơn gọi của chúng ta. Thưa anh em, hãy hít thở thật sâu tinh thần truyền giáo mà thánh Vinh Sơn gợi lên cho những môn đệ của ngài. Hãy đổ đầy tâm trí và tâm hồn chúng ta tinh thần ấy. Tiếp đến, hãy ra đi.
“Hãy đi khắp thế giới và rao giảng tin mừng cho mọi loài thụ tạo.”
[1] SV. III, 356.
[2] Mc 16, 15.
[3] Ga 16, 28; Cf. Ga 1,1 , Ga 14, 28.
[4] Mc 16, 15.
[5] SV. XI, 134.
[6] Ibid.
[7] Cf. AVERY DULLES, “Seven Essentials of Evangelization,” trong Origins 25 (#23, November 23, 1995) 397-400.
[8] Tông huấn Loan Báo Tin Mừng, số 24
[9] Cf. S.V. II, 4.
[10] SV. XI, 402.
[11] KARL RAHNER, “The Abiding Significance of the Second Vatican Council,” trong Theological Investigations XX, 90-102; cf. “The Future ò the Church and the Church of the Future,” trong Theological Investigations XX, 103-114.
[12] SV. XII, 26-27.
[13] SV. II, 381.
[14] Christifideles Laici, 7.
[15] HP, 1.
[16] LC, I,2.
[17] LC, XI, 12.
[18] SV. V, 489; XII, 561.
[19] BETTY ANN MCNEIL, Monograph I: The Vincentian Family Tree (Chicago: Vincentian Studies Institute, 1996).
[20] Cf. Trích trong W. BUHLMANN, The Church of the Future (Maryknoll, NY; Orbis, 1986) 193.
[21] SV. XI, 146.
[22] Centesimus Annus, 5.
[23] SV. XII, 130; cf. XI, 53.
[24] SV. I, 295.
