5. TẬN HIẾN CHO THIÊN CHÚA ĐỂ PHỤC VỤ NGƯỜI NGHÈO
Luigi Mezzadri
4. NHƯ NHỮNG NGƯỜI BẠN THÂN ĐỐI XỬ VỚI NHAU
Cha Vinh Sơn không muốn rằng việc tông đồ chỉ là độc quyền của phái nam. Cha muốn tất cả liên kết thành một khối duy nhất, cùng chung sức với nhau. Vì thế, cha đã mời gọi các bà tham gia công tác này, bằng hai cách:
Trước hết, cha mời các bà trong “Hội Bác Ái” mà cha đã thành lập ở Châtillon vào năm 1617, bấy giờ đã phát triển nhanh đến nỗi không đoán trước được. Những mệnh phụ danh giá nhất thuộc giới quý tộc Pháp là thành viên của Hội, từ bà Louise-Marie de Gonzague, hoàng hậu Ba Lan đến bà mẹ của đại tướng Condé, từ nam tước phu nhân De Renty, đến thống chế phu nhân De Schomberg, từ nữ công tước D’Aiguillon đến quí bà Pollalion, bà De Villeneuve và bà De Miramion.
Để có thể biết được phẩm trật của những vị này, người ta nhớ đến một giai thoại khá khôi hài. Nữ công tước De Nemours, mẹ của tướng Condé, của hoàng thân Conti và nữ công tước De Longeville phàn nàn trong toà giải tội. Vị linh mục là một con người thánh thiện, và đầy kinh nghiệm hỏi bà lý do tại sao? Nữ công tước đã trả lời là bà không thể nào tha thứ cho ba người thù của bà. “Họ là ai vậy?” vị linh mục hỏi. “Đó là vua nước Pháp, vua nước Phổ và công tước xứ savoie”.
Những bà quí tộc này làm thành “tổng hành dinh” (ban chỉ đạo) cho những sáng kiến của cha Vinh Sơn. Khi cha Vinh Sơn cần thực hiện sáng kiến mới nào thì cha bàn hỏi với họ. Cùng với các bà, cha nghiên cứu dự phóng, họp hội đồng, khuyến khích và đặt tin tưởng nơi họ. Và cha không bao giờ phải hối tiếc.
Nhóm phụ nữ thứ hai cha mời cộng tác là các Nữ Tử Bác Ái.
Tất cả đã khởi đầu do một sự tình cờ, như chúng ta vẫn thường gặp nơi cha Vinh Sơn. Vào khoảng năm 1623, Louise de Marillac là một phụ nữ tàn tạ về thể xác và tinh thần, không còn động lực để sống. Từ lâu bà đã trải qua nhiều đau khổ.
Ngay từ thời thơ ấu, Louise sống trong gia đình như số phận “cô bé lọ lem”, người ta chịu đựng hơn là yêu mến cô. Đối với gia đình Marillac, cô là đứa con không chính thức, ra đời năm 1591, không hề được cảm nhận sự ấm áp hay một tình yêu thương nào của gia đình. Từ nhỏ cô đã được gởi nội trú nơi đan viện thuộc hoàng gia ở Poissy, do các nữ tu Đa Minh điều khiển vì gia đình muốn cô phải tránh mặt.
Sau đó cô lại được gởi trọ học tại nhà một phụ nữ. Tình trạng lần này còn kém hơn trước, vì Louise bắt buộc phải phụ giúp bà này bằng công việc của mình.
Nhờ sống xa gia đình, cô đã có cơ hội trưởng thành hơn về đời sống nội tâm. Do đó, đời sống thiêng liêng cũng trở nên sâu sắc hơn. Cô cầu nguyện và đọc sách.
Đã đến lúc phải lựa chọn hướng đi, Louise xin gia nhập Dòng các nữ tu Thương Khó. Nhưng vì Giám tỉnh là cha Honoré de Champigny không đồng ý, vì bà không đủ sức khoẻ.
Như vậy, cô đã bị gia đình từ chối và giờ đây hình như nhà Thiên Chúa cũng từ chối cô. Chỉ còn con đường giải thoát là lập gia đình. Qua sự môi giới của gia đình, cô được chọn làm vợ ông Antoine le Gras, là kỵ sĩ tuỳ tùng và bí thư của hoàng hậu. Những tước vị này không gợi lên gì nhiều. Louise được gọi là “cô” chứ không phải là “bà”, tước hiệu này chứng tỏ cô thuộc hạng thấp kém hơn và là một người… không đáng kể. Họ đã kết hôn với nhau và chín tháng sau một bé trai chào đời, bé Michel. Đời sống đôi ban không mấy hạnh phúc. Theo lời tâm sự của Louise thì chồng bà lo cho quyền lợi người khác hơn là cho gia đình. Luôn đau yếu, ông thường xa gia đình. Đứa con trai cũng là nỗi thất vọng của bà. Bà chỉ còn biết nương náu nơi Thiên Chúa và nơi những vị linh hướng. Bà đã đi vào đêm tối, không được soi sáng bởi Thiên Chúa hay con người. Được bà Louise hỏi ý kiến, Đức cha Le Camus, Giám mục giáo phận Belly đã khuyên bà cách rất khôn ngoan là tránh trở về với quá khứ và cũng không nên hối tiếc về những gì bà đã không thể thực hiện được. Ngài chỉ cho phép bà khấn giữ thủ tiết, nếu một khi chồng bà qua đời.
Vào lúc lễ Thăng Thiên năm 1623, bóng tối còn bao phủ dày đặc hơn. Bà tự hỏi có nên bỏ người chồng của bà. Bà đâm hốt hoảng vì sống xa vị linh hướng của mình. Bà cảm thấy bị bỏ rơi như Chúa Kitô trên Thánh giá.
Khi mọi việc có vẻ như đã chết và hoang tàn, thì một luồng ánh sáng chói lọi loé ra. Mọi việc này xảy đến vào ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống 4.6.1623. Louise đang ở trong nhà thờ xứ Saint Nicolas des Champs, đường Saint Martin, trong lúc cô cầu nguyện hay tham dự thánh lễ, thì một tiếng nói bên trong cho cô biết là phải sống với chồng cô, vì sẽ đến lúc nào đó cô được ở trong một cộng đoàn tận hiến cho việc phục vụ người nghèo. Cô không hiểu điều đó làm sao có thể thực hiện được vì cô thấy trước là các chị em “đi đi về về”. Cô cũng được biết rất chắc chắn sẽ tìm được một vị linh hướng mới. Hơn thế nữa, Thiên Chúa đã cho phép cô thấy ngài. Và thay vì hân hoan vui mừng cô lại cảm thấy một sự ghê tởm. Vị linh hướng đó chính là cha Vinh Sơn.
Lý do làm cho bà có ghê tởm đối với vị linh hướng này là không tìm thấy nơi ngài dáng vẻ thiêng liêng cao cả: chẳng hạn phải có đôi mắt luôn hướng nhìn trời cao và những câu nói văn chương hoa mỹ. Vinh Sơn lại là một con người chỉ biết nhìn xuống đất, vì tính khiêm nhường và rất thực tiễn của ngài. Và hơn nữa, cha không muốn lao vào lãnh vực văn chương thiêng liêng.
Khi được quen biết cô Louise vào khoảng năm 1624 hoặc 1625, cha đã cho cô những chỉ dẫn rất rõ ràng và đơn giản. sau khi chồng cô qua đời ngày 26.12.1625, cha thực sự trở thành nơi nương tựa vững chắc cho cô. Nếu vì buồn bực mà cô đã không rước lễ, thì cha nhiều lần nói đi nói lại cho cô hiểu rằng đời sống đức tin của ta sẽ không tốt đẹp hơn nếu ta sống xa Chúa: “Đức Giêsu Kitô là sự hiệp thông thường xuyên cho những ai hiệp nhất với điều Người muốn cũng như điều Người không muốn”. Cha khuyên cô bỏ bớt những việc thực hành thiêng liêng quá nhiều trong đời sống cầu nguyện của cô: “Thiên Chúa là Tình yêu và muốn người ta hành xử bằng Tình yêu”. Cha cũng khuyên cô không nên vội vã và phải phó thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa mà chúng ta phải đi theo chứ không lấn bước. Cô còn được chỉ cho thấy sự khiêm nhường như là viên ngọc quí đáng giá hơn cả núi đá.
Năm 1629, sẽ có sự thay đổi nào đó, không phải vì chồng cô đã qua đời, nhưng đời cô đến một khúc quanh mới. Cô cho cha Vinh Sơn biết cô cảm thấy như được thúc đẩy hiến thân cho người nghèo. Cô bắt đầu đi thăm các hội “Bác Ái”.
Điều đó bắt buộc Louise phải ra khỏi Paris và đồng thời cũng thoát ra khỏi chính mình.
Khi đi thăm các hội Bác ái như vậy, Louise nhận thấy có thiếu một sự gì trong việc phục vụ của các bà quí phái. Họ đã dấn thân và hiến cả thời giờ, của cải và sự dịu hiền. Họ cũng đã dâng hiến, dâng hiến rất nhiều và tất cả, nhưng các bà đã không dâng hiến cuộc sống của mình. Theo cha Vinh Sơn cần phải có những người tận hiến trọn vẹn thời giờ cho việc phục vụ người nghèo. Và cha đã không tốn công tìm được những mẫu người như vậy.
Lòng quảng đại có một sức thu hút khó cưỡng lại. Chính điều này đã lôi cuốn chị Marguerite Naseau. Vì nghèo khó chị phải chăn giữ bò, nhưng nhờ vậy mà chị có nhiều thời giờ rỗi và bắt đầu suy nghĩ. Chị muốn làm một điều gì hơn thế. Khi đó chị đã có ý định dạy các em bé học. Chị tự học đọc và viết một mình và chị đã mua một cuốn sách vỡ lòng và bắt đầu, cứ học một lần bốn chữ. Chị mau chóng dạy lại cho người khác những gì chị đã học được. Chị cũng tìm gặp được cha Vinh Sơn và ngài khuyến khích chị trong việc dạy học đó. Tuy phải chịu đựng nhiều thiếu thốn, nhưng chị rất phấn khởi hân hoan. Sau đó khi biết được tại Paris, người ta săn sóc các bệnh nhân nghèo, chị đã đến trình diện và trở thành người rường cột của Hội Bác ái của giáo xứ Saint Sauveur. Nhiều thiếu nữ khác cũng đã theo gương chị.
Chị qua đời trong khi đang phục vụ. Vì chị đã đón về nhà một thiếu nữ bị bệnh dịch hạch nên chị đã bị lây nhiễm và cuộc sống chị đã bị cắt ngang như người ta cắt một cành hoa. Nhưng thân cây vẫn còn đứng vững.
Cha Vinh Sơn đón nhận nhóm nhỏ các chị em và giao lại cho bà Louise.
Trong bài nói chuyện ngày 5.7.1640, cha Vinh Sơn đã trình bày mục đích của ơn gọi của Tu hội Nữ Tử Bác Ái. Như con của Thiên Chúa, mà chị em phải coi như là gương mẫu để bắt chước, Tu hội được kêu gọi “phục vụ tha nhân, thăm viếng và chữa lành các bệnh nhân, dạy dỗ những người dốt nát để được cứu rỗi”. Vài ngày sau đó, ngày 19.7.1640, cha lại qui tụ các chị em và đề nghị một đề tài nói chuyện khác về lòng yêu mến ơn gọi và việc giúp đỡ người nghèo. Cha đã so sánh ơn gọi Nữ Tử Bác Ái với ơn gọi các tu sĩ Capucins, Chartreux và Dòng Tên. Các tu sĩ Capucins có mục đích ca ngợi tôn vinh Thiên Chúa trong việc đền tội sám hối, các tu sĩ Chartreux thì sống trong im lặng và ngợi khen Thiên Chúa, Dòng Tên với việc tông đồ. Còn các chị em Nữ Tử Bác Ái nghèo hèn có mục đích phục vụ bệnh nhân về thể xác và tinh thần.
Sau này, vào ngày 13.2.1646, cha cũng nhắc cho các chị em nhớ là thuở đời đời Chúa đã chọn các chị em để phục vụ người nghèo. Cha cũng nói thêm: Chúa đã thấy được sự hiện diện của biết bao hội dòng đã lập ra các bệnh viện để giúp đỡ các bệnh nhân, và có biết bao tu sĩ tận tâm phục vụ họ. Nếu trong một gia đình nghèo có người nào đó lâm bệnh, thì bắt buộc phải cách ly người chồng khỏi người vợ, bà mẹ khỏi các con cái, người cha khỏi gia đình. Cho tới nay, lạy Chúa, Ngài chưa hề ra lệnh cho một ai chăm sóc những người nghèo này, và hình như sự quan phòng đáng tôn thờ của Thiên Chúa không bao giờ quên sót một ai, lại chưa đoái nhìn đến những người này.
Vấn đề không phải là bất kỳ một sự giúp đỡ nào. Trọng tâm của việc thăm viếng là tình yêu, một tình yêu được mời gọi biểu lộ lòng nhân lành của Thiên Chúa đối với những bệnh nhân nghèo, được coi như là “Thầy và Chủ”.
Trong bản Qui luật chung, cha Vinh Sơn trình bày mục tiêu của các Nữ Tử Bác Ái đặt trọng tâm vào việc “tôn thờ Chúa Giêsu Kitô… phục vụ Người về thể xác và tinh thần nơi bản thân người nghèo, hoặc là bệnh nhân, hoặc các trẻ em, tù nhân hay những người nào khác, mà vì thể diện đã không dám tỏ lộ nhu cầu của họ”. Khung cảnh, không gian của nơi phục vụ không phải là tu viện hay đời sống tu dòng, nhưng là ở giữa thế gian. Vị trí của các chị em ở sát bên nhu cầu của mọi người chứ không phải là sau hàng rào nội cấm để bảo vệ mình. Các chị em nhớ rằng các chị em không thuộc về bậc tu dòng, vì bậc sống này không thích hợp với những công việc thuộc ơn gọi của các chị. Tuy nhiên các chị bị thử thách ngoài đời nhiều hơn các nữ tu, các chị thường lấy nhà bệnh nhân làm đan viện, căn phòng thuê làm tu phòng, nhà thờ giáo xứ làm nguyện đường, đường phố hay phòng các bệnh nhân làm nội cấm, đức vâng phục làm nội vi, đức kính sợ Chúa làm rào ngăn, đức nết na làm khăn đội đầu; vì những lý do đó, các Nữ Tử Bác Ái bắt buộc có một đời sống nhân đức như các nữ tu đã khấn trong một dòng tu, và khi các chị hiện diện ở nơi nào giữa thế gian, các chị cũng phải cư xử với sự trầm mặc, tâm hồn trong sáng và siêu thoát đối với mọi tạo vật, nêu gương sáng như các nữ tu đích thực trong các đan viện.
Đây thật là một bản văn táo bạo. Để bảo vệ trọn vẹn đời sống tận hiến và đời sống cầu nguyện, Giáo luật đã thiết lập chung quanh các đan viện những hàng rào vững chắc, buộc phải có nội cấm đối với các nữ tu. Một cộng đoàn tận hiến cho việc phục vụ là không thể tưởng tượng được. Có người hảo ý cho rằng đó là việc chưa từng thấy. Việc phục vụ chiếm hàng đầu, đến nỗi người ta dành ưu tiên cho việc trợ giúp người nghèo trước các việc đạo đức, bởi vì làm nữ vậy là “Rời Chúa vì Chúa”. Nhưng không phải chỉ có “làm” thôi. Nếu việc phục vụ đòi hỏi sự di động “đi đi về về” như mẹ Thánh Louise đã thoáng thấy trước đây mười năm, người ta đòi hỏi phải có những con người linh hoạt. Để trả lời cho vấn nạn của ban quản trị Bệnh viện Trung ương: họ không muốn có trong bệnh viện những nữ tu chỉ biết ngước mắt và đưa hai tay lên trời trong dáng điệu cầu nguyện. Họ chưa biết cha Vinh Sơn. Ngài muốn những con người có bản lĩnh vừa có khả năng chiêm niệm vừa phục vụ, an ủi giúp đỡ, biết lao động, nhưng đồng thời cũng biết sống trong sự đối thoại với Thiên Chúa.
Cha Vinh Sơn cũng muốn bảo vệ đức khiết tịnh trong việc dấn thân phục vụ. Vì không thể ngăn chặn thế gian lọt qua con mắt, thì phải tận diệt nó nơi tâm hồn. Do đó ngài đòi hỏi phải biết giữ gìn ngũ quan, có quan hệ mật thiết với chị bề trên mà các chị có bổn phận trình bày nhu cầu khi đến nhà để thăm viếng một bệnh nhân và các chị không được đến đó một mình, tránh những nơi có tiếng xấu hay những bệnh nhân mất tín nhiệm do tật xấu ô uế.
Để bảo vệ ơn gọi, cha Vinh Sơn đã dự liệu những lời khấn tư và được lặp lại mỗi năm. Cho tới thế kỷ XVIII, Toà thánh không công nhận những lời khấn của các tu sĩ không có nội cấm, nên cha Vinh Sơn phải nghĩ tới cách độc đáo và khôn khéo để tránh né những trở ngại và giữ được các Nữ Tử Bác Ái trong việc phục vụ người nghèo. Nhiều lần cha đã nhấn mạnh đến sự kiện các Nữ Tử Bác Ái cần phải có nhân đức nhiều hơn các nữ tu khác: “Hơn nữa, tôi xin nói với các chị em, nếu các nữ tu phục vụ tại bệnh viện trung ương cần có nhân đức vì họ săn sóc bệnh nhân, thì các chị em không phải chỉ phục vụ như họ, nhưng còn hơn thế nữa, vì chị em, làm như Chúa Giêsu đã làm khi Ngài đến tận nhà thăm viếng họ, không như các nữ tu là chỉ săn sóc họ tại nhà mình, nhưng các chị phải đi tìm bệnh nhân tại nơi họ ở, và như vậy là chị em đã vượt trên các nữ tu, vì chị em không chỉ giúp đỡ những người nào được đem đến cho chị em thôi, như các nữ tu vẫn thường làm, nhưng chị em còn đi đến tận nhà để phục vụ họ, mang thức ăn cho họ và còn giúp họ nhiều việc khác nữa”. Khi so sánh Nữ Tử Bác Ái với các nữ tu Ursuline, cha đã nói thêm: các nữ tu này chỉ giáo dục những thiếu nữ khá giả trong tu việc của họ, trong khi đó các Nữ Tử Bác Ái được mời gọi dạy dỗ, không chỉ các trẻ em thôi nhưng là tất cả mọi người nghèo mà các chị gặp gỡ, và họ cần được giúp đỡ. Do đó, lời khấn chính là cứu cánh của việc phục vụ người nghèo nên các chị phải tuyên khấn.
Với mục tiêu đó, các chương trong Qui luật của Tu hội đều hướng tới mục đích là làm sao giữ chị em trong việc phục vụ người nghèo. Ngoài các bề trên, các chị em còn phải vâng phục các cha xứ họ đạo mà chị em đang phục vụ, ban giám đốc của những bệnh viện, các bác sĩ. Điều cam kết chính yếu vẫn là việc phục vụ Chúa Giêsu Kitô nơi bản thân các bệnh nhân: các chị phải tự mình đem thức ăn đến cho họ, săn sóc họ về thể xác và tinh thần, không được nhờ người khác thay thế mình.
Đời sống thiêng liêng lấp đầy ngày sống của các chị em bằng những giờ kinh nguyện. Thời khoá biểu rất chặt chẽ. Thức dậy vào lúc 4 giờ, các chị cầu nguyện, rồi điểm tâm với chút bánh mì, và một ngày lao nhọc chấm dứt vào lúc 8 giờ 15 tối, đó là thời gian dành cho giấc ngủ.
Lúc đầu người ta dự tính lập những cộng đoàn nhỏ, hiện diện và sinh hoạt ăn khớp với hiện trường địa phương. Như vậy, trong mỗi một làng, ngoài chị bề trên, dự trù sẽ có một chị lo cho trường làng, đặc trách việc giáo dục các em gái nghèo nhưng không dạy các em trai, một chị khác săn sóc bệnh nhân tại gia hay bệnh xá địa phương. Trong bản Qui luật riêng dành cho các chị ở giáo xứ, người ta nhấn mạnh đến nhu cầu của việc suy nghĩ về ý nghĩa ơn gọi, nghĩa là về việc phục vụ thể xác và tinh thần. Về đời sống đạo, các chị em phải dạy các em giục lòng Tin, Cậy, Mến, ăn năn tội, nhẫn nại vâng theo ý Chúa. Các chị cũng được nhắc nhở phải giúp các em xưng tội chung, vì theo cha Vinh Sơn đó là trọng tâm của tuần đại phúc. Để cho các việc đạo đức riêng tư này không phương hại đến việc phục vụ, các chị phải quan tâm giúp mỗi người cách đồng bộ. Các chị cũng phải lo lắng không để cho các bệnh nhân thiếu một việc phục vụ gì, dù rất nhỏ tuy chỉ nhắm tới mục tiêu duy nhất là Thiên Chúa. Các chị phải tỏ ra bình thản trước những lời khen ngợi cũng như những câu trách móc than phiền.
Để cho mọ người thấy việc phục vụ là hoàn toàn nhưng không, các chị không được nhận một món quà nào dù rất nhỏ. Trái lại các chị phải xác tín mình là người mắc nợ người nghèo. Vì thế, việc phục vụ bệnh nhân phải được ưu tiên hơn những công việc khác, ngay cả việc đạo đức. Tuy nhiên, các chị không được dung bữa tại nhà người ngoài và cũng không canh thức tại nhà bệnh nhân.
Thời khoá biểu của các chị em săn sóc bệnh nhân có một vài điểm khác với thời biểu chung. Chẳng hạn như, sau giờ nguyện gẫm, các chị đi phát thuốc cho bệnh nhân rồi tham dự thánh lễ. Sau đó, các chị đến lấy thức ăn tại nhà một bà Bác ái đúng phiên nấu ăn cho bệnh nhân và phân phát cho họ từ 9 đến 11 giờ. Sau bữa ăn, các chị soạn thuốc theo toa của bác sĩ để đem đến cho bệnh nhân và mang nồi đựng thức ăn về cho người phụ trách bữa ăn kế tiếp. Nếu vào mùa đông thì 18 giờ và mùa hè là 20 giờ, các chị mới đóng cửa.
Người ta cũng nhận thấy nơi Mẹ Louise de Marillac một sự sáng suốt như vậy trong việc phục vụ tại gia. Vào năm 1647, khi viết thư cho chị Turgis, Mẹ hỏi xem các chị có đi thăm bệnh nhân không, chị Turgis có ghi nhận là các chị em ở miền quê thường có nhiều bệnh nhân phải đi thăm ở cách nhau hơn một dặm. Thế nên thật là vinh dự khi “có đôi guốc”, là dụng cụ khi di chuyển, nhưng đồng thời cũng là cơ hội để thánh hoá. Với một tư tưởng thực tiễn lành mạnh, Mẹ lưu ý các chị em là việc phục vụ rất hữu ích cho đời sống thiêng liêng: “Chị em hãy nhớ… chị em có nhiều điều khổ tâm khi ở những nơi có ít việc làm”. Khung cảnh sống của các chị ở miền quê rất rõ nét trong tư tưởng của Mẹ Louise: Một chị phụ trách trường học và một chị thăm viếng bệnh nhân. Như vậy, ở Chars, chị Marie lo việc giáo dục, chị Clémence thăm viếng bệnh nhân tại nhà họ hoặc trong bệnh viện, nhưng cũng không có gì ngăn cản nếu hai chị chia sẻ công việc cho nhau.
Về việc phục vụ tại bệnh viện, chúng ta nên nhớ rằng bệnh viện Angers là bệnh viện đầu tiên Thánh Vinh Sơn đảm nhận. Từ các bệnh viện đã phát xuất nhiều vấn đề đáng kể. Ban Giám đốc bệnh viện nắm giữ một vai trò quyết định có thể là nguyên nhân của những xung đột giữa họ và ban lãnh đạo trung ương của Tu hội. Các bà Bác ái mà từ đầu các chị có liên hệ chặt chẽ thì nay hầu như cũng không còn ảnh hưởng. Vì vậy, các đấng sáng lập buộc phải đòi hỏi trong hợp đồng phải có những điều khoản thật rõ rang, chẳng hạn như ở bệnh viện Angers và các nơi khác: Ở Saint Denis (1645), Nantes (1646), Montreuil sur Mer (1647). Dù sao, mãi tới năm 1668, Tu hội vẫn còn ngần ngại khi nhận lời cộng tác với các bệnh viện; nhưng từ đó về sau, bệnh viện trở thành môi trường phục vụ đặc trưng và bình thường của các Nữ Tử Bác Ái. Vào thời kỳ trước Cách mạng Pháp, các chị điều khiển khoảng 175 bệnh viện trên toàn lãnh thổ nước Pháp. Vào năm 1658, Mẹ Louise de Marillac viết cho thầy Ducourneau: “Điều cần thiết là phải trình bày cho các thiếu nữa ở Saint-Fargeau biết, khi họ xin gia nhập Tu hội Nữ Tử Bác Ái, đó là Tu hội chứ không phải là một dòng tu, cũng không phải là một bệnh viện buộc phải ở luôn trong đó, không xê dịch, nhưng phải liên tục đi tìm kiếm những bệnh nhân nghèo ở khắp nơi, cho dù trời nắng hay trời mưa, vào những giờ nhất định”.
Các chị em phải trực tiếp phục vụ người nghèo. Chị nào được giao phó việc đón tiếp bệnh nhân thì phải tự coi mình là nữ tỳ của họ, họ là “Chủ và Thầy”. Với tinh thần này, chị rửa chân chọ họ bằng nước nóng, bắt chí và nếu cần thì cắt tóc cho họ nữa, thay áo và cho họ mũ hay khăn đội đầu trắng, rồi cho đi ngủ sau khi làm giường với tâm trải vừa được sưởi ấm, cho họ nước xúp và một ly để uống.
Như Thiên Chúa đã cứu độ con người nhờ con người, cha Vinh Sơn cũng nghĩ như vậy: điều cần thiết là nhờ người nghèo cứu người nghèo. Cũng như Thiên Chúa cứu độ con người bằng Tình yêu, cha Vinh Sơn ghi nhớ rằng đứng ái phải được đặt ở vị trí ưu tiên hàng đầu. Cũng như Thiên Chúa đã nhập thể nơi Đức Giêsu Kitô nhờ một người nữ. Ở đây, không phải bất cứ một người nữ nào, nhưng là một người đàn bà có thể phản chiếu nhiều lần khuôn mặt của Đức Maria, tựa như một viên kim cương với hàng ngàn mặt. Như thế Nữ Tử Bác Ái, người con gái của Thiên Chúa, được sinh ra, như Đức Maria.
