6. NHỮNG SINH HOẠT MỚI CỦA THÁNH VINH SƠN

0
174

Luigi Mezzadri

5. TẬN HIẾN CHO THIÊN CHÚA ĐỂ PHỤC VỤ NGƯỜI NGHÈO


Năm 1633, cuộc đời cha Vinh Sơn bước qua một khúc quanh mới. Đây là giai đoạn thứ ba. Cha Vinh Sơn đã ngoài 53 tuổi. Thời kỳ của những tham vọng đã qua rồi, những công trình thành lập cũng đã hoàn tất. Bây giờ cha được uỷ thác những trách nhiệm mới khẩn cấp hơn. Cha không chuộng và cũng không cần phí công để đi tìm những công việc đó, nhưng chính xã hội đã nhận ra vai trò của ơn đoàn sủng nơi ngài. Người ta cần đến cha và cha cũng sẵn sàng vì cha đã giải thoát mình khỏi mọi ràng buộc. Cha được tự do để phục vụ.

Trước tiên, cha muốn bảo đảm công việc phục vụ Giáo hội.

Cha Vinh Sơn cộng tác và việc cải cách đời sống đan tu. Điều đó thật cần thiết. Một số đan viện đã bị lu mờ và mất uy tín. Nhiều tu sĩ cầu nguyện nhưng thiếu lòng tin, chỉ biết vâng phục luật lệ cách miễn cưỡng. Với một tu sĩ muốn chuyển dòng và xin gia nhập vào một hội dòng có qui luật rộng rãi hơn, cha Vinh Sơn đã nói: “Đó không còn là một hội dòng nữa nhưng là một nơi mất trật tự vì các tu sĩ sống phóng túng và khó tính.” Một viện mẫu, do đời sống gậy tai tiếng, đã bị giam giữ trong một đan viện. Bà liền xin Tu viện trưởng Adrien le Bon, nhờ ông này can thiệp với cha Vinh Sơn để cha đối xử khoan dung hơn với bà. Ông Le Bon là người đã dâng tặng cho Tu hội Truyền giáo ngôi nhà Sant Lazare, nên nghĩ rằng ông sẽ được kính nể. Nhưng cha Vinh Sơn không xiêu lòng. Cha còn sẵn sàng trả lại nhà Saint Lazare cho ông chứ không vị nể.

Cha cũng cổ võ những nỗ lực cải cách vào thời của ngài, chẳng hạn nơi các tu sĩ dòng Mauriste, các kinh sĩ dòng, công cuộc cải cách do Đức cha Alain de Solminhac, bạn của cha Vinh Sơn thực hiện ở Grandmont và trong dòng Đa Minh.

Để cải thiện đời sống của hàng giáo sĩ, ngoài những cuộc tĩnh tâm và các chủng viện, cha Vinh Sơn còn tổ chức những “buổi nói chuyện ngày thứ ba”. Tên gọi này bắt nguồn do sự kiện ngay từ năm 1633, tại Paris thường diễn ra các buổi gặp gỡ của các giáo sĩ. Dưới sự hướng dẫn của cha Vinh Sơn, các ngài cầu nguyện chung với nhau và sau đó mỗi người nói lên những tư tưởng và xác tín của mình về thiên chức linh mục. Các ngài đã khích lệ nhau với những điều chia sẻ. Sau những lần gặp gỡ đó, các ngài cảm thấy hăng hái hơn và đầy can đảm. Chỉ có một trường hợp ngoại lệ, đó là một Hồng y tương lai De Retz, người con út của gia đình Gondi, mà cha Vinh Sơn đã quen biết từ thuở nhỏ. Gia đình này muốn cho ông ta làm linh mục để kế vị trên Toà Giám mục Paris mà gia đình Gondi truyền lại cho nhau từ chú sang cháu. Người ta gởi gắm ông này cho cha Vinh Sơn, cha gợi ý cho ông ta tham dự những buổi nói chuyện, nhưng ông ta rất ít có mặt ở đó. Trong tập hồi ký của ông, ông ta ghi lại những gì cha Vinh Sơn nói về ông: ông không có lòng đạo đức bao nhiêu, nhưng ông cũng không xa nước Thiên Chúa.

Retz là một trường hợp ngoại lệ. Có rất nhiều vị giám mục tương lai đã tham dự những buổi nói chuyện này. Cha Vinh Sơn biết ngăn ngừa mọi tham vọng. Để thử nghiệm lời nói của các ngài, cha Vinh Sơn đòi hỏi họ phải dấn thân. Các ngài đi giảng đại phúc cho những người mù, người loạn trí, gái điếm, tù khổ sai ở Tournelle, những hành khất. Tuần đại phúc được tổ chức vào năm 1638 tại triều đình vua Louise XIII rất nổi tiếng: vua đã đặt vương quốc Pháp dưới sự bảo trợ của Đức Trinh Nữ Maria.

Khi vua Louise XIII qua đời (14.5.1643) hoàng hậu Anne d’Autriche làm nhiếp chính, nên tất cả quyền hành nằm trong tay bà. Hoàng hậu muốn qui tụ chung quanh mình, ngoài những vị bộ trưởng tài năng, một Hội đồng Cố vấn gồm những con người chín chắn để giải quyết những vấn đề tôn giáo. Bà cho mời cha Vinh Sơn tham gia vào Hội đồng Cố vấn lương tâm này. Đó không phải là một cơ quan có qui chế xác định. Họ chỉ nhóm họp khi được Hoàng hậu hay vị thủ tướng là Mazarin triệu tập.

Đối với cha Vinh Sơn đó là một sự thừa nhận quan trong. Cha đã là thành phần của giới có quyền thế mà cha đã gọi là “Các nhà quyền quí”. Điều đó không làm cha căng thẳng nhưng cha trở nên khiêm nhường hơn. Bao lâu khi có thể được, cha từ chối việc dùng xe ngựa. Khi thấy cha quá mệt, người ta bắt cha vâng lời phải dùng xe. Ngày kia, có một bà đến xin cha một đặc ân. Để được lòng cha Vinh Sơn, bà này nói, trước đây bà đã là người hầu của “bà cố của cha”. Người ta không biết là phản ứng của cha Vinh Sơn thế nào, nhưng biết rõ câu trả lời của ngài: “Thưa bà, bà đã lầm lẫn tôi với một người khác, mẹ của tôi không bao giờ có người hầu, vì chính bà là người hầu hạ, vì bà là vợi và tôi là con của một người nông dân”. Vì thế, người ta dễ hiểu khi được ai khúm núm “thưa Đức ông”, cha Vinh Sơn chỉ trả lời: “Tôi chỉ là một người chăn heo”.

Một trong những vấn đề của Hội đồng Cố vấn lương tâm này, là việc bổ nhiệm các giám mục. Theo hiệp ước ký năm 1516,  nhà vua có quyền chỉ định những vị có trách nhiệm cai quan các giáo phận. Toà Thánh giữ quyền phê chuẩn hay phủ nhận.

Chúng ta cũng dễ hiểu, khi biết cha Vinh Sơn là một trong những vị có quyền quyết định như vậy, có rất nhiều người đến “gởi gắm”. Một giai thoại kể lại câu chuyện về một bà công tước, đã tức giận vì con bà “bị hụt” ghế Giám mục, đã quăng một chiếc ghế đẩu vào đầu cha Vinh Sơn. Thực tế còn sinh động và phong phú hơn nhiều.

Năm 1646, khi Đức Giám mục Bayeux qua đời, chủ tịch nghị viện đứng ra đề nghị con trai của ông là Edouard được bổ nhiệm vào chức vụ đó. Cả Hoàng hậu và Thủ tướng Mazarin đều chấp thuận. Không thể khác hơn được. Cha Vinh Sơn biết rõ người con trai của gia đình Molé không đủ khả năng nắm giữ chức vụ này, nên đã đến gặp ông chủ tịch nghị viện, năn nỉ ông ta nên rút lại việc đề cử trên. Đây là một việc thật lạ lùng. Người ta có thể phẫn nộ đối với cha Vinh Sơn và xua đuổi ngài như một người vu khống. Nhưng ông Molé lại kiên nhẫn. Ông nhìn nhận rằng cha Vinh Sơn rất có lý, nhưng ông không thể làm khác được. Ông hy vọng với một Hội đồng Cố vấn gồm những người cộng sự sáng suốt khôn ngoan, thì con ông sẽ không phạm những lỗi lầm đáng kể. Sau năm năm tất cả đã được giải quyết bởi cái chết của Edouard Molé.

Trong một trường hợp khác, cha Vinh Sơn nhận được một lời thỉnh cầu kỳ lạ. Một  tu sĩ vốn là nhà giảng thuyết nổi tiếng, ứng cử vào chức giám mục. Ông cho rằng luật dòng làm ông tiêu hao sức khoẻ và ngăn trở ông trong việc hoạt động vì lợi ích các linh hồn. Cha Vinh Sơn đã trả lời cách hài hước ở mức độ được coi là như là một dấu chỉ của đức ái, và cũng không làm tổn thương vị linh mục thông thái đó: “Tôi chắc chắn là ngài sẽ làm được những điều kỳ diệu trong chức vụ Giám mục, nếu ngài được Thiên Chúa mời gọi. Nhưng ý Chúa tỏ cho thấy là muốn ngài vẫn ở chức vụ của mình, nên Chúa đã ban cho ngài gặt hái được nhiều kết quả tốt đẹp trong công việc cũng như trách nhiệm hiện tại, và không có dấu hiều nào cho thấy Chúa muốn ngài rút đi nơi khác, vì nếu sự quan phòng của Thiên Chúa kêu gọi ngài làm Giám mục, thì Chúa sẽ không trực tiếp cho ngài biết để ngài tự đề nghị như vậy. Nhưng Chúa sẽ bày tỏ cho những người có thẩm quyền trong Giáo hội chọn ngài vào đó, không cần ngài phải đi bước trước. Và như thế, ơn gọi của ngài mới thật là trong sáng và chắc chắn; nhưng ở đây, việc ngài tự mình đề nghị là chuyện xem ra cần phải xét lại… và hơn nữa, thưa ngài, ngài sẽ làm tộn hại cho Hội Dòng thánh thiện của ngài vì đã mất đi một cột trụ chính đáng nâng đỡ và gây tín nhiệm nhờ giáo huấn và gương sáng của ngài. Nếu ngài mở cánh cửa đó, thì ngài sẽ làm cớ cho những tu sĩ khác cũng sẽ bỏ Hội Dòng để theo sau ngài. Nếu ngài tin tôi, ngài nên ngưng việc giảng thuyết trong một thời gian để lấy lại sức khoẻ. Ngài còn đem lại nhiều lợi ích cho Thiên Chúa và nhà Dòng vì đó là một Hội Dòng thánh thiện và nêu gương sáng nhất trong Giáo hội Chúa Kitô”.

Như thế, dù muốn dù không, cha Vinh Sơn cũng bị lôi cuốn vào những dao động chính trị. Cha cũng không lấy đó làm niềm kiêu hãnh. Khi trở nên người có quyền hành, cha trở thành tiếng nói của những người không có tiếng nói.

Một phần ba cuộc đời còn lại của cha Vinh Sơn trùng hợp với thời kỳ giặc giã của nước Pháp. Sau một thời gian hoà bình, ít nhất là đối với các nước lân cận, súng đại bác lại bắt đầu nổ và tiếng trống lại vang lên.

Thật ra, trước đó cũng đã có những thời kỳ nội chiến, những tranh chấp nội bộ trong hoàng tộc, những cuộc nổi dậy của dân, những cuộc dấy loạn của những người quyền quý và giặc giã chống lại người Huguenot (Tin lành theo phái Calvin). Nhưng trong những năm của thập niên 30, chế độ chính trị làm phát sinh chiến tranh và đưa đến chiến tranh. Đối với Đức vua và thủ tướng Richelieu đó là một sự lựa chọn sáng suốt và không tránh được.

Chiến tranh đã bắt đầu với cuộc xâm chiếm miền Lorraine vào năm 1632, sau đó chiến tranh đã đốt phá hết miền Bắc và miền Đông nước Pháp. Nhiều tỉnh bị phá hoại, thành thị và miền quê bị đốt cháy, mùa màng bị tàn phá hay bị cướp bóc. Với tình trạng đầy đe doạ đó đã xuất hiện thần đói và ôn dịch. Đã xảy ra những cảnh ăn thịt người và ăn xác chết. Đối với nhiều người, cái chết như là một sự an ủi và giải thoát.

Trước hoàn cảnh này, cha Vinh Sơn không làm như thầy tư tế trong dụ ngôn, khi thấy người bị ngã và bị thương nằm bên vệ đường, đã tránh qua bên kia đường mà đi. Cha Vinh Sơn trở thành người thân cận.

Năm 1636, khi được tin người Tây Ban Nha đã tiến tới Corbie, cha Vinh Sơn đã nói với các tu sĩ, con cái cha: “Đây là thời gian sám hối vì Chúa muốn sửa phạt dân người”. Trong tinh thần liên đới với những người bé nhỏ, cha đã xin các con cái phải kiêng khem rất nhiều. Trong ba, bốn năm trên bàn ăn không còn thấy những ổ bánh mì ngon nữa.

Như vậy vẫn chưa đủ. Những tin tức nhận được từ những vùng có chiến tranh đều chỉ nói tới chết chóc và điêu tàn. Vào giữa những năm 1639 và 1642 (khó xác định), lấy hết can đảm, cha Vinh Sơn đã đến gặp Richelieu: “Thưa Đức Ông, xin ngài hãy đem lại hoà bình cho chúng tôi, xin thương xót chúng tôi, xin đem lại hoà bình cho nước Pháp”. Đó là những lời nói phát xuất từ chính cõi lòng cha. Hồng y Richelieu bào chữa: ông không thể làm gì được. Ông đã trả lời cha Vinh Sơn như vậy. Cha không thoả mãn với câu trả lời đó. Thật ra, tại Paris tất cả mọi người sống trong bình yên, nhưng ở các tỉnh lại khác. Đứng trước tình huống mới này, cha Vinh Sơn tự cảm thấy mình bị chất vấn. Mọi người đều là anh em của cha.

Phản ứng của cha là do sự liên đới và tình yêu. Cha tập hợp hết mọi người có thể giúp đỡ cha. Hoàng hậu đã tặng cha những tấm thảm và chiếu giường đã dùng vào việc an táng vua Louis XIII. Bà công tước D’Aiguillon cũng làm như thế sau cái chết của chú bà là Hồng y Richelieu. Còn những người khác, tuy cho ít hơn nhưng so với nguồn lợi của họ, sự giúp đỡ của họ còn quảng đại hơn nhiều. Sau đó cha Vinh Sơn đã gởi các tu sĩ truyền giáo đến những vùng đang có chiến tranh. Cha phân tán họ tuỳ nơi có nhu cầu nhiều hơn. Cha cũng đã gởi các ngài rất nhiều quà tặng mà cha đã nhận được, để các ngài trực tiếp phân phối cho người nghèo mà không phải qua trung gian nào. Một tu sĩ truyền giáo đã chết vì kiệt sức tại Bar-le-Duc ngày 19.1.1640. Cha Vinh Sơn đã nói về cái chết đó như sau: “Ngài đã chết như tôi hằng mong muốn và cầu khẩn với Thiên Chúa để được chết như vậy”. Cha xúc động khi được biết có đến sáu, bảy trăm người nghèo tham dự đám tang của vị thừa sai. Cha đã gởi ngay một tu sĩ khác tới thay thế. Vị nạy cũng bị ngã bệnh. Sau khi đã bình phục, cha này đã viết thư cho thánh Vinh Sơn: “Từ ít lâu nay, tôi đã lo cho 260 người nghèo có áo mặc. Nhưng, thưa Đức Ông, số người mà một mình tôi đã trang phục thiêng liêng cho thì cao hơn gấp bội, nhờ xưng tội chung và lãnh nhận Bí tích Thánh Thể. Chỉ trong vòng một tháng, tôi đã đếm được là hơn 800”.

Tại Metz, hoàn cảnh thật bi đát. Mỗi buổi sáng, trên đường phố, người ta đi nhặt những xác chết bị cho sói gặm xé. Giám mục Henri de Bourbon, người con riêng của vua Henri IV đã chỉ nhận chức cắt tóc để lãnh nhiều bổng lộc của nhà thờ ông. Người nghèo đang chết đói, không làm ông bận tâm. Ông chẳng hề nghĩ tới họ. ở Vedun cũng vậy, Giám mục François de Lorraine đã kết hôn với một bà nam tước. Chỉ có cha Vinh Sơn mới nghĩ đến người nghèo.

Chiến tranh càng ngày càng lan rộng và đã tiêu huỷ nhiều miền đất khác. Cha Vinh Sơn đã gởi các cha thừa sai và các thầy trợ sĩ để thành lập các Hội Bác ái và thúc đẩy sự tương trợ. Cha đã gởi cho họ thóc giống, áo quần, các thứ hạt giống để trồng và công cụ cày bừa. Sự giúp đỡ muốn đem lại phẩm giá cho con người bằng cách giúp họ tự vượt khỏi sự thiếu thốn: “Chúng tôi dành riêng một chút gì có thể giúp một vài người nghèo gieo trồng mảnh đất của họ. Giúp những người nghèo nhất mà nếu không có sự giúp đỡ này, họ sẽ không thể làm gì được”. Những vị thẩm phán của thành Lunéville, năm 1642, đã cảm ơn cha như sau: “Hình như Tạo Hoá chỉ tỏ ra khắt khe với chúng tôi, nhưng khi đó chúng tôi lại nhận được nhiều tặng phẩm từ tay của một người con của cha trong Đức Kitô mang đến cho chúng tôi. Sự giúp đỡ đó đã làm giảm bớt nhiều nỗi cùng cực của chúng tôi và nâng đỡ niềm hy vọng của chúng tôi vào lòng thương xót của Thiên Chúa”. Nhưng như vậy vẫn chưa đủ. Cha Vinh Sơn còn nói với các con cái: “Đang mùa đói khổ này, bắt buộc chúng ta phải vay mượn để sống và giúp đỡ người nghèo”.

Vào cuối cuộc chiến tranh 30 năm (1648), vùng lorraine không còn là một bận tâm hàng đầu của cha nữa, thì cuộc nội chiến La Fronde lại bắt đầu. Chính những người Pháp chống đối nhau, và Đức vua chống lại dân chúng. Đó là tình trạng rối ren do lòng ganh ghét, sự thù ghét đối với Mazarin và việc bảo vệ những cục bộ.

Cha Vinh Sơn có bạn bè ở cả hai phe, trong kinh đô Paris đang bị bao vậy và phe quân dội của Hoàng hậu. Cha dung cảm thử đứng ra làm trung gian.

Trong đêm giá lạnh 14.1.1649, cha Vinh Sơn và một thầy trợ sĩ đã đi ngựa rời khỏi Paris. Hai bóng thoáng qua bị nhóm cư dân ở trạm gác Clichy chặn lại. Nhưng khi nhận diện được cha, họ để ngài đi. Ở Neuilly, mức sông Seine dâng cao, cuốn mất cầu Tuileries và còn làm ngập lụt nhiều thửa đất khác nữa. Nước tràn ngập bờ. Tuy nhiên hai kỵ sĩ vẫn mạo hiểm và vào giữa buổi sáng hai ngài mới đến Saint Germain-en-laye. Cha Vinh Sơn xin được yết kiến Hoàng hậu. Cha đã trình cho Hoàng hậu sự khốn khổ của Paris và gợi ý cho Hoàng hậu sự khốn khổ của Paris và gợi ý cho Hoàng hậu bãi nhiệm Mazarin. Cha Vinh Sơn không phải là người ưa hoạt động trong bóng tối và đâm sau lưng. Cha đã đi gặp Hồng y: “Xin ngài hãy nhượng bộ… và hãy nhảy xuống biển để cơn giông tố lắng xuống”. Đó là lời nhắn nhủ của ngôn sứ Giô-na. Nhưng Mazarin đâu phải là Giô-na. Ông không từ bỏ chức vụ mình. Một nhà ngoại giao mưu mô như ông không thể chấp nhận một lời khuyên kiểu đó được. Ông không nổi giận. Cũng không làm hại gì đến cha Vinh Sơn, nhưng đã loại trừ cha khỏi Hội đồng Cố vấn lương tâm.

Ở lại triều đình cũng vô ích. Cha tiếp tục những chặng đường đầy gian khó giữa thời tiết gió mưa. Trong khi lội qua một con sông, con ngựa đã ngã quị đè lên người cha khiến cha có thể bị mắc kẹt. Được cứu sống, cha được đưa vào một quán trọ, và sau khi bình phục, cha bắt đầu dạy giáo lý.

Cha lại tiếp tục đi về miền Tây nước Pháp, trải qua nhiều biến cố. Cha bị bệnh trong một thời gian. Cuối cùng cha trở về lại Paris trong chiếc xe ngựa mà bà công tước D’Aiguillon đã tặng cho cha . Vị Tổng Giám mục Paris, để giúp cha vượt qua sự e ngại cố hữu, đã bắt buộc cha phải giữ chiếu xe đó để sử dụng.

Lại thêm những đòi hỏi mới khẩn cấp hơn. Vùng Le-de-France đến lượt mình cần được giúp đỡ, và sau đó là miền Picardie và Champagne. Nhà Saint Lazare trở thành một trung tâm cứu trợ cung cấp thức ăn cho 10.000 người nghèo tại Saint Lazare và 15.000 người trong thủ đô Paris. Người nghèo vẫn luôn luôn là “gánh nặng và nỗi lo lắng” đối với cha Vinh Sơn. Nếu có ai nói cho cha biết là không còn gì trong nhà nữa, cha trả lời ngay: “Đó là một Tin Mừng. Chính lúc này chúng ta chứng tỏ lòng tin tưởng vào Chúa”. Cha cũng đã gởi các Tu sĩ Truyền giáo đến những vùng bị tàn phá. Chỉ trong năm 1651, ở miền Champagne đã có đến 16 hay 17 tu sĩ. Các vị thẩm phán ở Rethel đã bày tỏ sự biết ơn, tuy có phần cay đắng: “Không một ai cảm thương với những nỗi thống khổ của chúng con, ngoài trừ cha và các con cái của cha”. Nhưng lá thư của họ tràn đầy sự lo lắng và họ đã chết đói. Nhưng trong một lá thư khác chúng ta đọc thấy: “Chúng tôi nói mà không sợ bị phản bác trong các việc bác ái cha thực hành, hình thức đầu tiên của lòng đạo đức Kitô giáo, bởi lẽ trong Giáo hội sơ khai các tín hữu thời đó đồng tâm nhất trí với nhau và họ không chịu để cho một người nghèo nào trong số họ bị túng thiếu mà không được giúp đỡ”.

Năm 1652, cha lại tìm một cách giải quyết mới cho cả hai phe đối lập trong cuộc chiến La Fronde. Hồng y Mazarin vẫn cứng rắn, không chấp nhận một sự khoan hồng nào đối với những ông hoàng và những người nào có tham gia vào chiến dịch La Fronde. Ngày 16.8.1652, cha Vinh Sơn đã viết cho Đức Giáo Hoàng Innocent X một lá thư thật bi đát, trong đó ngài cho Đức Giáo Hoàng thấy, với cái nhìn thực tiễn của một người đã dự phần vào mọi hoàn cảnh tang tóc, đau khổ của đất nước, còn bị chia rẽ bởi những phe phái chống lại nhau. “Hoàng tộc bị chia rẽ thành nhiều phe phái, dân chúng cũng bị chia ra nhiều nhóm chống đối, các thành phố và các tỉnh bị tiêu điều vì nội chiến, các làng mạc, thôn xóm khắp nơi đềm bị đột phá, đổ nát. Nông dân không thể thu hoạch mùa màng và cũng không thể trồng trọt cho những năm tới. Binh lính tha hồ thao túng mà không hề bị kỷ luật. Dân chúng bị lâm vào cảnh hiểm tứ bề: Không những bị trộm cướp mà còn bị chém giết và tra tấn đủ cách. Dân chúng ở thôn quê, nếu không bị chết vì gươm giáo thì cũng chết vì đói; các linh mục cũng không tránh khỏi bàn tay của quân lính, các ngài bị đối xử tồi tệ và độc ác, bị hành hạ và giết chết; các thiếu nữ cũng bị hãm hiếp, ngay đến các nữ tu cũng bị làm nhục. Các nơi thờ phượng bị xúc phạm., cướp phá hoặc bị đốt cháy. Nếu có nơi nào may mắn còn sót lại, thì bị các vị chủ chăn bỏ rơi, đến nỗi giáo dân không còn được lãnh nhận các bí tích, không có thánh lễ và những sự trợ giúp thiêng liêng khác. Cuối cùng, một sự việc, mà chỉ nghĩ đến đã thấy kinh khủng, huống gì là khi nói ra, Bí tích cực trọng Mình Thánh Chúa bị đối xử một cách bất xứng nhất ngay cả do những Kitô hữu, để chiếm đoạt bình thánh, họ vứt bừa bãi Mình Thánh Chúa xuống đất và chà đạp dưới chân”.

Viễn tượng của một sự hoà giải cũng không xa. Mỗi người đều ước ao điều đó, nhưng phe chiến bại lại không đủ can đảm đầu hàng và người chiến thắng thì thiếu sự khoan hồng. Người ta còn sợ rằng vua muốn gây chiến với Tây Ban Nha ở phía Bắc để tiến đánh thủ đô. Vị vua trẻ Louis XIV đã giúp cho mọi sự nên dễ dàng. Vua truất chức Mazarin và hứa ban một đại xá. Hai sự kiện đó đã giảng hoà được dân chúng và bắt buộc các lãnh tụ phe Fronde đầu hàng. Ngày 28.10, vua và dân chúng đã giảng hoà với nhau.

Tiếp đó là tiếng kêu cứu từ miền Bắc, nơi đó chiến tranh chống Tây Ban Nha đang tiếp tục. Tại đó cha cũng lập những trung tâm cứu trợ, những Hội Bác ái và các bệnh viện. Có một điều mới lạ là cha Vinh Sơn gọi các Nữ Tử Bác Ái tới vùng này. Từ trước đến nay, sự có mặt của phụ nữ nơi chiến trường là điều không thể nghĩ tới. Các chị tuy tháp tùng với các toán quân, nhưng với mục đích khác hẳn. Khi gọi các chị đi, cha Vinh Sơn đã nói: “Binh lính ra trận là để giết nhau, còn các chị đến đó là để đền bù sự dữ mà họ gây ra ở đó”. Sau trận đánh Les Dunes 14.6.1658, Thống chế Turenne chiến thắng Condé và Tây Ban Nha, Hoàng hậu đã xin 6 Nữ Tử Bác Ái. Cha Vinh Sơn chỉ tìm được bốn chị, mà hai chị đã qua đời sau thời gian ngắn. Có một chị tình nguyện xin tiếp tục công việc phục vụ của các chị vừa mới qua đời trên mặt trận.


7. KẺ RỐT HẾT GIỮA NHỮNG NGƯỜI RỐT HẾT