Những suy tư về sứ vụ “ad gentes” dưới ánh sáng của thánh Vinh Sơn

0
873

Antonino Orcajo, C.M.

Kể từ khi có thông báo về việc phong thánh cho John Gabriel Perboyre, một mối bận tâm có tính đổi mới trong sứ vụ “ad gentes” đã lay động con tim của nhiều nhà truyền giáo. Về những sứ vụ này, Hiến pháp của Tu Hội Truyền Giáo lặp lại tư tưởng của thánh Vinh Sơn, khi nói, “… việc truyền giáo chiếm một vị trí ưu tiên trong số những việc tông đồ của Tu Hội” (HP.16). Lời cổ võ của Đấng sáng lập về chủ đề này đã xuất hiện nhanh chóng trong tâm trí khi tôi đọc lại các lá thư của cha Robert Maloney, C.M., Bề Trên Tổng Quyền. Trong các thư, ngài đã tường thuật lại các cuộc kinh lý ở Trung Hoa và Châu Phi, và đồng thời ngài đưa ra lời kêu gọi đến các thành viên trong Tu Hội quảng đại hưởng ứng bằng việc tình nguyện tham gia vào công việc truyền giáo quốc tế mà Tu Hội đã cổ võ. Có phải vì trong một số hoàn cảnh hiện nay mà toàn thể Tu Hội sẽ phải đưa ra các minh chứng rõ ràng hơn, hoặc thực tế là phải hy sinh nhiều hơn về nhân lực và tài lực để chứng tỏ rằng việc truyền giáo chiếm một “vị trí ưu tiên” trong các công việc của Tu Hội không? Phải chăng cũng nên phục hồi lại tinh thần truyền giáo bằng việc xả thân quảng đại hơn cho các sứ vụ ở những quốc gia mà sự nghèo đói từng là điều tồi tệ nhất và rất cần sự giúp đỡ? Lúc này đây và lúc nào cũng thế, sự cống hiến thực sự cho việc truyền giáo làm hồi sinh tinh thần của Tu Hội, một Tu Hội được sinh ra chính là để mang Phúc Âm đến mọi nơi trên thế giới.

Trong thời thánh Vinh Sơn, các nhà truyền giáo đã chín mùi trong ơn gọi khi đối diện với nhu cầu đi đến các quốc gia “xa xôi” nơi mà Tin Mừng chưa được rao giảng hoặc Giáo hội chưa được thiết lập. Lời kêu gọi truyền giáo là một “lời thức tỉnh” ơn gọi mà Đấng Sáng Lập đã nói trong các bài nói chuyện và các thư từ của Ngài.[1] Điều tương tự cũng có thể nói đến là các sứ vụ được đảm nhận bởi các Bề trên Tổng quyền khác, những người kế vị Thánh Vinh Sơn, các ngài đã phát động và tái khẳng định ơn gọi quý báu của Tu Hội Truyền Giáo. Mẫu gương của thánh John Gabriel Perboyre đã minh chứng cho điều này. Sự tận tụy của ngài trong việc rao giảng thông điệp Phúc Âm, đầu tiên là trong các chủng viện ở San Floro và tập viện ở Pháp, và sau đó ở Trung Quốc, một sự hiến dâng được ghi dấu bằng tình yêu đối với Đức Kitô và Giáo hội, đã tạo ra vô vàn ích lợi cho toàn thể Giáo hội Kitô giáo và hơn hết là cho một bộ phận nhỏ đó là gia đình Vinh Sơn.

Nhiệt huyết theo Đức Giêsu, Đấng rao giảng Tin Mừng cho người nghèo

Theo kinh nghiệm của thánh Vinh Sơn, sự dấn thân trong việc truyền giáo xuất phát từ một tình yêu sâu đậm với Chúa Giêsu, Đấng được Chúa Cha sai đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo. Chúa Giêsu là kiểu mẫu đầu tiên và tuyệt vời nhất cho tất cả các nhà truyền giáo. Người nhập thể trong bản tính của chúng ta và được xức dầu bởi Chúa Thánh Thần để loan báo Tin Mừng cứu độ, Đức Giêsu thành Nazareth dạy dỗ trong các hội đường, chữa lành bệnh tật, tha thứ tội lỗi và kêu gọi mọi người hoán cải. Nơi nhân tính của Ngài các bản văn Kinh Thánh về Đấng Mêsia được ứng nghiệm (x. Lc 4,21), Ngài đã đi khắp các làng mạc và thành thị xứ Palestin, và Ngài còn muốn đi qua bên kia các biên giới: “sự khôn ngoan vĩnh cửu của Ngài cho rằng cần phải ra đi rao giảng về sự hoán cải cho các dân tộc nghèo nàn. Do đó, Ngài đã sai các tông đồ và Ngài cũng sai chúng ta, giống như các tông đồ, mang ngọn lửa của Ngài đi khắp nơi.”[2] Đây thực sự là Nhà Truyền Giáo cho người nghèo, đầy lòng yêu thương trắc ẩn và lòng thương xót, Người đã khởi xướng ơn gọi của thánh Vinh Sơn Phaolô và sứ vụ mà Ngài lập ra đã khởi đi từ năm 1617, nhân một biến cố ở Gannes-Folleville.

Việc thánh Vinh Sơn đề cập đến Đức Giêsu như là nhà truyền giáo thì không thay đổi ở bất cứ chỗ nào khi ngài làm cho nó được biết đến trong linh đạo, cộng đoàn, và việc giảng dạy tông đồ của ngài. Một nhân chứng đảm bảo với chúng ta rằng: “khi thánh Vinh Sơn nói một cách sâu sắc… về lòng trắc ẩn đối với người đau khổ, về việc chăm sóc người nghèo, về lòng nhiệt thành đối với sự cứu rỗi các linh hồn… ngài làm như vậy bằng lời nói và hành động.”[3] Chúng ta có thể hoàn toàn đảm bảo rằng sự lan truyền mà thánh Vinh Sơn để lại cho những người bạn đồng hành là do tình yêu mà ngài dành cho Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ trần gian. Kết quả là, mọi người đều bị ấn tượng bởi hành vi và lời nói của ngài, và nói chung họ sẵn sàng đi đến tận cùng trái đất để “làm cho người nghèo được biết Thiên Chúa, loan báo Chúa Giêsu Kitô cho họ, cho họ biết triều đại Thiên Chúa đang đến gần, và Vương Quốc đó là dành cho người nghèo.”[4] Nhiều lần người ta nghe ngài nói rằng lý tưởng lớn nhất của ngài trên thế gian này là mang Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo, bất kể xa đến đâu, và ngài thèm muốn sự may lành của những nhà truyền giáo “được gửi đến khắp tứ phương thiên hạ.”[5] Để kết luận, chúng ta có thể nói rằng ước muốn noi gương Chúa Giêsu, Đấng rao giảng Tin Mừng cho người nghèo đã không bị các động cơ xã hội gạt ra một bên theo bất kỳ cách thức nào.

Có ai không nghe được những âm vang mà các tiền nhân tạo ra không? Không ai trong chúng ta không biết, ít nhất trên lý thuyết, ơn gọi theo Chúa Giêsu – Đấng rao giảng Tin Mừng cho người nghèo, là mang trong mình một ý định sâu thẳm đi đến bất kỳ nơi nào trên thế giới. Giả như cần có bất kỳ minh chứng nào để phân biệt ơn gọi truyền giáo, đó là phải có cảm nhận như thánh Phaolô, tính cấp bách về đức ái của Chúa Kitô để mang đến cho mọi người sự hiểu biết về Thiên Chúa và về Sứ Giả của Người là Đức Giêsu Kitô (Ga 17,3). Nếu không phải như vậy, thì người ta đã mắc sai lầm khi gia nhập vào Tu Hội, một Tu Hội “được đào luyện theo một khuynh hướng đến độ có thể từ bỏ mọi thứ, đến khi người đó được Đấng Thánh chọn để sai đi thì sẽ vui vẻ ra đi”.[6] Đó là điều mà Đấng sáng lập của chúng ta đã viết cho thầy Codoing vào ngày 25/05/1642 để diễn tả cho thầy Codoing thấy niềm an ủi lớn lao mà cha cảm nhận khi Đức Ông Ingoli, vị thư kí đầu tiên của Bộ Truyền Bá Đức Tin, đã mời cha phụ trách một vài sứ vụ truyền giáo vào những dịp khác nhau. Một sự xúc động như thế không phải bởi một cảm xúc thoáng qua, nhưng đúng hơn đó là niềm xác tín sâu sắc nhất và tình yêu dành cho Chúa Giêsu Kitô như được thấy trong bất kỳ sự truyền đạt nào từ trước cho đến nay. Ngài tin chắc rằng ở những vùng truyền giáo, nơi nghèo đói nhất và ít thợ gặt nhất thì mùa màng lại bội thu nhất.[7] Dù đã ba thế kỷ trôi qua, điều này vẫn y như vậy. Trên thế giới không có cảnh hoang tàn nào đáng buồn hơn khi nhìn thấy cảnh ở các nước kém phát triển, như vô số nhân chứng chứng thực, những nhân chứng này không chỉ là các thành viên của hàng giáo phẩm và các bề trên của các Tu Hội Truyền Giáo, mà còn bất kỳ người nào lưu tâm đến sự phát triển của các dân tộc.

Tình yêu được minh chứng với Giáo hội

Việc truyền giáo của Chúa Giêsu cho thế giới và việc Ngài sai các tông đồ cùng với chỉ thị là mang Tin Mừng đến với muôn dân đã gia tăng sự nhiệt huyết trong những giáo huấn của thánh Vinh Sơn cho các môn đồ của ngài. Sau nhiều lần giải thích về ơn gọi truyền giáo, thánh Vinh Sơn kết luận với sự am hiểu sâu sắc về nghĩa từ nguyên và khái niệm của thuật ngữ “nhà truyền giáo” tương đương với “tông đồ”: “Người truyền giáo” nghĩa là gì? Nó có nghĩa là ‘được gửi đến, được Thiên Chúa sai đi’. Chúa đã phán: “Hãy đi khắp thế gian và rao giảng Phúc Âm cho mọi loài thụ tạo.”[8] Thật vậy, mười hai tông đồ vâng theo lệnh truyền của Chúa, đã ra đi khắp thế gian và làm chứng bằng lời nói và việc làm của các ngài về cuộc đời của Chúa Giêsu đã nhập thể, chết và chỗi dậy để cứu độ – giải thoát toàn bộ nhân loại. Như là bằng chứng về tình yêu của các tông đồ dành cho Chúa Giêsu, chính họ đã phải đối diện với các cuộc bắt bớ, tù đày, các mối đe dọa và đã chết; không có gì và chẳng ai có thể cản bước chân của họ hay làm cho họ im lặng. Hơn hết, thánh Phaolô tông đồ đã ví ngài như chiếc bình sành được chọn, là hình mẫu của lao công và tình yêu không mệt mỏi đối với các cộng đoàn Kitô hữu đang phát triển ở nơi này hay nơi khác, tùy theo sự thúc đẩy của Thánh Thần là Đấng dẫn Phaolô theo những con đường khác nhau.

Khi Đấng sáng lập Tu hội đọc sách Công Vụ Tông Đồ, ngài cảm thấy bị đánh động bởi cùng một Thần Khí, Đấng đã thúc đẩy thánh Phaolô thành Tác-xô đi loan báo cho dân ngoại về sự giàu có khôn ví của Đức Kitô. Sau khi đọc sách Công Vụ Tông Đồ, thánh Vinh Sơn đã truyền cho các bạn đồng hành ngọn lửa thiêu đốt nội tâm ngài. Những gian khổ trong việc rao giảng Tin Mừng đã không làm thánh Vinh Sơn sợ hãi, cũng như những gian khổ đã không gây sợ hãi cho các tông đồ, thậm chí là ngay cả cái chết trong Tu hội như là kết quả của sứ vụ truyền giáo. Trái lại, ngài nói: “Đừng để khó khăn làm bạn trở nên hèn nhát. Đây là vấn đề về vinh quang của Chúa Cha, hiệu quả của Lời và sự thương khó của Chúa Con. Ơn cứu độ của các dân tộc và ơn cứu độ của chính chúng ta là một điều tuyệt đẹp đến nỗi chúng xứng đáng với bất kỳ nỗ lực nào, bất cứ giá nào có thể trả. Không quan trọng nếu chúng ta có ra đi trước miễn là chúng ta chết trong sự vâng phục… Bởi vì mỗi nhà truyền giáo hiến mạng sống của mình vì tình yêu thì Thiên Chúa sẽ nâng nhiều người khác lên, và họ sẽ hoàn thành điều tốt đẹp mà nhà truyền giáo trước đó đã để lại.”[9]

Lịch sử đã chứng thực lời tiên báo này, điều mà thánh Tertulian trong tác phẩm Hộ Giáo đã viết: “Máu của các thánh tử đạo là hạt giống trổ sinh các tín hữu.” Chúng ta có thể tự hỏi rằng máu của các thánh tử đạo, như mẫu gương thánh John Gabriel Perboyre và Francis Regis Clet, có là những hạt giống làm phong phú ơn gọi truyền giáo không? Việc truyền giáo trong nước và quốc tế không thể so sánh với các sứ vụ khác trong Tu hội. Chúng có một sức mạnh mang tính giáo dục mà các sứ vụ khác không có. Chúng là những kiểu mẫu tuyệt vời trong việc tự hiến cho việc truyền bá đức tin, điều đã rèn giũa những ơn gọi đích thật cho Tu hội và đã cống hiến cho Giáo hội nhiều vị thánh nhất. Và có thể tự hỏi liệu đặc sủng truyền giáo có bị suy yếu đi không, nếu đúng như thế, thì ơn gọi của Tu hội sẽ bị mai một dần và phải dâng Tu hội nhỏ bé cho ai được đề cử để họ là những người tiếp tục công việc chính yếu của Chúa Giêsu, Đấng từ trời đến thế gian để hoàn thành sứ vụ mà Chúa Cha giao cho Ngài.

Tình yêu tha thiết dành cho Chúa Giêsu gắn với tình yêu dành cho Giáo hội, vừa là người mang Tin Mừng và vừa được Tin Mừng hóa bởi chính những người mà Giáo hội thánh hóa trong công việc của họ. Điều này đã là lời chứng của tất cả những tôi tớ Phúc Âm. Giáo hội được xem là Vương Quốc của Thiên Chúa, là chuồng chiên và là Thân Thể của Đức Kitô, gợi hứng cho thánh Vinh Sơn những cách thức truyền giáo thú vị, biểu hiện qua kinh nghiệm về phép rửa và chức linh mục của ngài. Giáo hội thể hiện như là Vương Quốc của Chúa, qua các cách thức truyền giáo mà Thánh Thần hướng dẫn Giáo hội.[10] Như là chuồng chiên hay bầy chiên, Giáo hội cần các mục tử nhiệt thành chăm sóc bầy chiên, tìm kiếm những con chiên lạc, băng bó các vết thương và lôi cuốn tất cả đến với bàn tiệc của ơn cứu độ (x. Lc 15,1-7; Mt 18,12-14). Như là Thân Thể Đức Kitô, Giáo hội gồm nhiều chi thể liên kết chặt chẽ với nhau; và các nhà truyền giáo là những người quan tâm và yêu thương nhiều nhất đối với những chi thể đang chịu đau khổ của Thân Thể.[11] Trong những hình ảnh này hay hình ảnh khác của Giáo hội, như mùa gặt cần nhiều thợ gặt,[12] hay Hiền Thê cần được gột sạch,[13] điều nổi bật là sự tốt lành của Thiên Chúa, Đấng “đã chọn những thừa sai để làm dụng cụ cho tình yêu phụ tử bao la của Ngài, là tình yêu luôn cố gắng để ngự trị và lớn lên trong mỗi tâm hồn.”[14]

Nỗi lo sợ Giáo hội sẽ biến mất ở châu Âu vì các cuộc chiến tranh tôn giáo và tình trạng suy đồi của các tục lệ đã thúc đẩy lòng nhiệt thành của thánh Vinh Sơn. Năm 1647, ngài khám phá ra mối bận tâm tương tự của J. Dehorgny: “Tôi có thể nói với bạn rằng đây là một tình cảnh đã khiến linh hồn tôi đau khổ trong một thời gian dài… Nhưng, dẫu cho Chúa không có kế hoạch này, chẳng lẽ chúng ta lại không nên góp phần để mở mang Giáo hội sao?”[15] Trên thực tế, thánh Vinh Sơn đã hết sức nỗ lực để cống hiến cho việc truyền giáo và việc đào tạo các giáo sĩ như một bằng chứng về tình yêu của ngài dành cho Giáo hội.

Lửa bác ái

Rõ ràng những hình ảnh nói trên của Giáo hội có thể được áp dụng cho cá nhân và tập thể, mặc dù không phải tất cả đều có thể nhận được cùng một đặc sủng là bác ái truyền giáo. Chính lòng bác ái đã thúc đẩy Con Thiên Chúa trở thành người giống như chúng ta và “để thiết lập giữa chúng ta, bằng gương sống và lời nói của Người, lòng bác ái đối với người thân cận.”[16] Nếu phân tích kỹ về nguồn gốc của Tu hội, chúng ta sẽ thấy chính “lòng nhiệt thành trong việc cứu rỗi các linh hồn” đã khai sinh Tu hội. Vì thế, Tu hội hoạt động luôn được thôi thúc dựa trên tình yêu thương và thậm chí luôn luôn “ở trong tình trạng bác ái”.[17]

Hiệu quả nổi bật của đức ái là lòng nhiệt thành tông đồ, nhiệt thành vì vinh quang của Thiên Chúa trên thế gian, nhiệt thành mang Phúc Âm đến cho muôn dân. Đó là nhân đức đặc trưng nhất của nhà truyền giáo, và là điều mà Đấng sáng lập Tu hội nhấn mạnh nhất dưới một vài khía cạnh riêng biệt. Tất cả chúng ta đều đã nghe nhiều về suy tư của ngài, điều chắc chắn được gợi hứng từ một câu tương tự của thánh Francis de Sales về sự dấn thân: “Lòng nhiệt thành bao gồm một ước muốn thuần túy là muốn làm hài lòng Thiên Chúa và làm ích cho người thân cận. Lòng nhiệt thành để mở rộng Triều đại của Thiên Chúa, lòng nhiệt thành để mang lại ơn cứu rỗi cho người thân cận. Có điều gì hoàn hảo hơn trên thế giới này không? Nếu tình yêu là lửa, thì lòng nhiệt thành là ngọn lửa của nó; nếu tình yêu là mặt trời, thì lòng nhiệt thành là tia sáng của nó. Lòng nhiệt thành là sự thanh khiết nhất trong tình yêu dành cho Thiên Chúa”.[18] Bây giờ người ta có thể hiểu rõ hơn lý do tại sao các nhà truyền giáo là những kiểu mẫu của lòng bác ái: bởi vì họ đi theo Chúa Giêsu, “Đấng đã đến để mang lửa đến thế gian để thổi bùng nó bằng tình yêu của Người. Chúng ta phải làm gì khác ngoài việc để nó tiếp tục bùng cháy và thiêu đốt tất cả?”[19]

Thánh Vinh Sơn cho thấy rằng ngài bị thiêu đốt bởi lòng bác ái hướng thần khi ngài cảm thấy cần phải mang lòng bác ái đó cho những người nghèo khó ngay cả khi sự già nua của ngài khiến ngài không thể làm được. Trong hoàn cảnh đó, lòng nhiệt thành bác ái nội tâm của ngài tạo ra những hiệu quả vô hình nhưng thiết thực cho toàn thể Giáo hội. Như là kết quả của sự hiệp thông của các thánh, nhiều nhà truyền giáo cảm thấy rằng có một sức mạnh nào đó thúc bách họ hiến dâng cuộc đời họ cho người anh em mà không hiểu tại sao. Đức Giáo hoàng Phaolô VI và Đức Gioan Phaolô II đã nêu bật vấn đề này trong các thông điệp và bài huấn dụ truyền giáo của các ngài, đồng thời đề cập đến lòng nhiệt thành là sản phẩm của lòng bác ái, trong nỗ lực chung để Phúc Âm hóa mọi dân tộc. Trái lại, sự thiếu vắng lòng nhiệt thành sẽ biến thành những tác động ngược với lòng bác ái mà về bản chất thì điều đó tự phát và dễ lây lan: tính tự cao, hèn nhát, vô cảm, lười biếng và tìm kiếm sự thoải mái, là những thói mà thánh Vinh Sơn đã nghiêm khắc lên án và coi đó như là kẻ thù của Tu hội. Nó khiến người ta bật cười khi tưởng tượng việc Đấng sáng lập Tu hội chế giễu bằng những lời mỉa mai nặng nề về những người lười biếng và thiếu lòng nhiệt thành trong việc rao giảng Tin Mừng, trong khi ngài khơi dậy sự ngưỡng mộ và lòng hăng hái khi ca ngợi sự dũng cảm của các tông đồ trong Phúc Âm. Một lòng nhiệt thành như thế bùng lên trong ngài khi ngài chứng kiến đời sống nội tâm của nhiều nhà truyền giáo, nóng lòng đi truyền giáo dù tuổi cao và đau yếu; nhưng hơn hết là khi ngài đưa ra những minh chứng cho sự thật là một số người bạn đồng hành đã hiến mạng sống của họ để tham gia vào công việc chính yếu của Giáo hội và Tu hội. Những điều này cha Vinh Sơn cho là hạnh phúc và được chúc phúc. Thánh Phaolô, thánh Vinh Sơn Ferriê và thánh Phanxicô Xaviê – những vị này được ngài xem như những nhân chứng đích thực của Chúa Giêsu vì đã mang Triều đại Thiên Chúa đến muôn dân. Do đó, thánh Vinh Sơn đã khuyến khích những ai ước muốn hiến mình cho các sứ vụ, đó là “công việc cao cả nhất, hữu ích nhất và có sức thánh hóa nhất trong Giáo hội… Các tông đồ và các vị thánh vĩ đại nhất đã tự coi mình là hạnh phúc khi được thiêu đốt bởi điều này.”[20] Vào một dịp nọ, khi nói về ơn gọi truyền giáo, cha Vinh Sơn đã chỉ ra lý do của rất nhiều hạnh phúc: “Thật hạnh phúc biết bao khi tình trạng của người truyền giáo là không có giới hạn nào khác trong sứ vụ của mình ngoại trừ chính thế giới đáng sống này! Tại sao lại giới hạn bản thân ở một điểm và giới hạn mình trong một giáo xứ nếu toàn bộ chu vi của vòng tròn là của chúng ta?”[21]

Khả năng hội nhập đáng khao khát

Lòng nhiệt thành hay lòng bác ái bị hun đốt đòi hỏi một thái độ hội nhập, nếu không có nó thì công việc lớn lao của các sứ vụ không thể thực hiện được. Trong thời kỳ của Đấng sáng lập, sự hội nhập là điều cần thiết và là bằng chứng của một ơn gọi trong Tu hội. Thật vậy, “ơn gọi của chúng ta cốt yếu ở việc ra đi, chứ không phải ở trong một giáo xứ, hoặc trong một giáo phận, mà là đi đến mọi nơi trên trái đất.”[22] Điều ngược lại sẽ giống như việc từ chối ý định của Thiên Chúa dành cho Tu hội, điều này buộc Tu hội phải tự hiện diện ở bất cứ nơi nào có nhu cầu lớn nhất đối với những người làm công tác rao giảng Tin Mừng. Sẽ không có sứ vụ nào nếu thiếu những người truyền giáo có khả năng hội nhập, thoát khỏi mọi ràng buộc có tính trói buộc như: nơi chốn, những thừa tác vụ, khuynh hướng thần thánh hóa. Sự hội nhập hiểu như là việc không giới hạn về ngôn ngữ, màu da, văn hóa hay phong tục. Những khó khăn mà các sứ vụ cho thấy thì không quan trọng đối với nhà truyền giáo là người đã từ bỏ chính họ và mọi của cải mà Thần Dữ hứa hẹn. Điều quan trọng đối với nhà truyền giáo là đi theo Chúa Giêsu, Đấng không có chỗ cố định để gối đầu.

Phải chăng hiện nay khả năng hội nhập của các cộng đoàn lâu năm trong Tu hội đang bị khủng hoảng không? Có phải họ không còn khuynh hướng khép kín mình lại như con ốc trong vỏ của nó không? Có phải họ không còn quan tâm đến sự tồn tại của chính họ hơn là những chân trời rộng lớn hơn của thế giới này không? Dựa trên các lá thư đã kể ở trên của Bề trên Tổng quyền hiện nay, các dấu chỉ về lòng nhiệt thành của nhà truyền giáo được ghi nhận ở khắp mọi nơi.

Tuy nhiên, ngài vẫn nhấn mạnh trong việc đưa ra những lời mời gọi mới về sự hội nhập của tất cả các thành viên trong Tu hội. Mặc dù số lượng ơn gọi bị sút giảm ở phương Tây và nhân sự già đi ở các tỉnh dòng lâu đời là những thực tế không thể chối cãi, nhưng chúng dường như không phải là bằng chứng cho thấy sự thiếu hụt tinh thần đối với các sứ vụ “ad gentes”. Mặc dù ngày nay có thể đúng là số người rời khỏi Tu hội và tử vong nhiều hơn số người được truyền chức linh mục, nhưng rõ ràng là lòng nhiệt thành truyền giáo vẫn còn sôi sục trong nhiều anh em đang mục vụ ở các giáo hội non trẻ với những viễn cảnh tuyệt vời về ơn gọi. Mặc dù chủ nghĩa cá nhân chắc chắn có thể thấy trong việc thực hiện một số nhiệm vụ, điều này được nêu rõ trong tài liệu của các Đại Hội gần đây, đồng thời chúng ta có thể tính toán dựa trên sự hợp tác quốc tế trong các dự án truyền giáo. Những tranh luận thuận chiều và trái chiều tô điểm cho thái độ hội nhập của các nhà truyền giáo hiện nay, điều này có thể biểu hiện “ký ức chọn lọc” về sự hướng dẫn mang tính phổ quát hóa ​​của các nhà truyền giáo trong quá khứ liên quan đến những lời kêu gọi giúp đỡ mà các Bề trên cao cấp đã nhận được.

Một số cộng đoàn lâu đời vẫn rất cởi mở với việc mục vụ “đại phúc”. Nếu như Đức Gioan Phaolô II dạy rằng: “Truyền giáo trong nước là một dấu hiệu đáng tin và là sự kích thích cho việc truyền giáo nước ngoài, và ngược lại”, thì sự hội nhập với sứ vụ thứ nhất sẽ giúp xác minh tinh thần phổ quát cần có cho sứ mệnh thứ hai, và ngược lại; khi tham gia tích cực – càng nhiều càng tốt – vào việc truyền giáo nước ngoài thì sẽ giúp củng cố ý tưởng truyền giáo trong nước. Lời khẳng định này cũng được xác nhận bởi lịch sử Giáo hội và của Tu hội chúng ta. Trong Tu Hội Truyền Giáo, việc truyền giáo “ad gentes” xuất phát từ sự thúc đẩy của việc truyền giáo cho các cộng đoàn Kitô giáo lâu đời. Vì vậy, thánh Vinh Sơn đã hiểu và đã giải thích điều đó như sau: “Ở đây, chúng ta phải lưu giữ gia sản của Giáo hội một cách nhiệt thành và các mối bận tâm của Chúa Giêsu Kitô, trong khi đó cũng không ngừng hoạt động để thực hiện các cuộc chinh phục mới và đem nó đến cho những dân tộc xa xôi nhất biết đến Ngài.”[23] Và ngài nói điều này bằng ngôn ngữ trong thời đại của ngài, khi dựa vào những con số thành viên bị giảm sút và những tai họa có thể lường trước và không lường trước được.

Kết luận

Không gì và không ai có thể cản trở tinh thần truyền giáo, cởi mở với bất cứ sự an bài nào của Chúa Quan Phòng, sống bằng niềm hy vọng cho tương lai. Mỗi nhà truyền giáo theo cách riêng của mình, kể cả người bệnh tật và người lớn tuổi được mời gọi để tìm kiếm và thiết lập Triều Đại Thiên Chúa. Việc không có khả năng về thể chất giúp duy trì lòng nhiệt thành truyền giáo của những thừa sai làm việc trong sự chống đối gay gắt. Về vấn đề này, thật hữu ích khi nhớ lại câu nói của thánh Vinh Sơn: “Chúa Giêsu Kitô và các thánh đã làm được nhiều hơn bằng đau khổ hơn là bằng hoạt động”.[24] Khi chăm chú nhìn vào Chúa Giêsu bị đóng đinh, Đấng đã chết để cứu rỗi muôn dân trong sự vâng phục Chúa Cha và vì tình yêu thương nhân loại, các nhà truyền giáo biến sự thinh lặng và đau khổ để hoàn thành cuộc khổ nạn cứu chuộc của Chúa Kitô bằng cách chân thành hiệp nhất vào thân thể đang truyền giáo và đau khổ của Giáo hội.


[1] Chủ đề về các sứ vụ “ad gentes” liên quan đến Thánh Vinh Sơn đã được nhiều tác giả nghiên cứu. Ở đây chúng tôi xin trích dẫn ngắn gọn các bài viết của họ. X. Redondo, J., Misionología de San Vicente,  Mexico 1960; Van Winsen, Saint Vincent et les missions ètrangères, Vincentiana (1978), pp.158-182; Esparza, C., San Vicente de Paúl y la misión “ad gentes”, Caminos de Misión (1992), no. 50, pp. 21 – 26; no 51, pp. 23-25; Orcajo, A., La visión misionera de San Vicente, San Vicente y la misión “ad gentes”, CEME, Salamanca 1995, pp.169-199.

[2] SV. XI, 387, ấn bản tiếng Tây Ban Nha.

[3] SV. XI, 835-836

[4] SV. XI, 387

[5] x. SV. III, 260; XI, 28

[6] SV. II, 214

[7] x. SV. X, 379

[8] SV. XI, 342

[9] SV. XI, 290

[10] SV. XI,730

[11] SV. XI, 560-561

[12] SV. XI, 734

[13] x. SV. II, 377

[14] SV. XI, 533

[15] SV. III, 143

[16] SV. XI, 555

[17] x. SV. XI, 564

[18] SV. XI, 590

[19] SV. XI, 555

[20] SV. IV, 348

[21] SV. XI, 828-829

[22] SV. XI, 533

[23] SV. XI, 245

[24] SV. II, 9