Tính Hiệp hành thể hiện ở đâu trong “Magnifica Humanitas –Con Người Cao Cả”?

Đăng ngày: 10 giờ trước

Erin Brigham

Qua thông điệp đầu tiên của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV – “Magnifica Humanitas – Con Người Cao Cả,” chúng ta không chỉ được hưởng nhờ sự khôn ngoan thức thời về trí tuệ nhân tạo, mà còn có được một khóe nhìn về Giáo hội học và cách ngài suy tư về Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo.

Xuyên suốt toàn bộ Thông điệp, tính Hiệp hành (synodality) được nêu đích danh bốn lần. Điều này cho chúng ta thấy cách thức Đức Giáo hoàng Lêô trình bày bản chất và vai trò của Giáo hội trong xã hội, cũng như sự phát triển của Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo. Quan trọng hơn cả, đó là việc ngài đề xuất một cách tiếp cận mang tính hiệp hành trong tương quan với quyền bính, điều mà thế giới, ngoài Giáo hội Công giáo, đang khao khát một tiếng nói mang sức nặng luân lý liên quan tới chủ đề này, sẽ thấy cực kỳ thuyết phục.

Tính hiệp hành xuất hiện như thế nào và ở đâu?

Liên quan đến sự phát triển nhanh chóng nhưng thiếu kiểm soát của trí tuệ nhân tạo, một trong những mối bận tâm của Đức Giáo Hoàng chính là sự đồng nhất hóa và tính chuyên quyền.

Ngài vận dụng biểu tượng trong câu chuyện về Tháp Baben để không chỉ cảnh tỉnh nhân loại về nguy cơ loại trừ Thiên Chúa khỏi những khát vọng và cách chúng ta hiểu về chính mình, mà còn đề xuất một viễn tượng mang tính tương phản: sự đa dạng trong hiệp nhất. Ngài chia sẻ với thế giới một sự khôn ngoan phát sinh từ việc bước đi cùng nhau như một Giáo hội duy nhất, khi viết: “…chính từ sự đa dạng tiếng nói và tầm nhìn, dù đôi khi chúng nhắc nhở chúng ta về sự hỗn loạn xảy ra do sự khác biệt ngôn ngữ, một khả thể tươi sáng xuất hiện. Quả thật, đó là khả thể của việc cùng nhau xây dựng, biến sự phong phú thành nguồn lực và làm cho việc lắng nghe, đối thoại trở thành nền tảng chung, vun trồng công lý và tình huynh đệ” (Magnifica Humanitas, số 10).

Lắng nghe những tiếng nói đa dạng, hiện diện giữa những căng thẳng và tin tưởng vào sức mạnh của cộng đồng là những yếu tố cốt lõi của tính Hiệp hành. Tuy nhiên, Đức Giáo Hoàng không chỉ nói về bản chất của Giáo hội, mà còn đề xuất một đường lối về việc cùng nhau khơi dậy tinh thần đồng trách nhiệm vì công ích thông qua “nguyên tắc bổ trợ” (số 13). Sự hợp tác sẽ không cần thiết nếu một cá nhân hay một nhóm nắm giữ mọi câu trả lời hoặc toàn bộ thẩm quyền; nhận định này đúng cả trong bối cảnh của Giáo hội lẫn xã hội. Cũng như Thượng Hội đồng về Hiệp hành đã mô phỏng nguyên tắc bổ trợ bằng việc thúc đẩy tinh thần đồng trách nhiệm vì sứ vụ thông qua việc tham gia từ giáo dân đến giáo quyền, việc xây dựng công ích cũng đòi hỏi sự cộng tác giữa các nhóm, với quan điểm và vai trò khác nhau, trong việc phát triển và điều tiết trí tuệ nhân tạo (AI).

Nguyên tắc bổ trợ cũng định hướng cách thức Đức Giáo hoàng Lêô mô tả sự phát triển của Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo như một tiến trình phân định chung. Ngài tiếp nối các vị giáo hoàng tiền nhiệm khi trình bày diễn tiến các thông điệp xã hội nhằm nhấn mạnh tính liên tục của truyền thống. Đồng thời, ngài ý thức rằng Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo không đơn thuần phát triển theo chiều từ trên xuống, nhưng còn ghi nhận vai trò của toàn thể dân Chúa, các mục tử, các thần học gia và tín hữu trong việc suy niệm Tin Mừng dưới ánh sáng của các vấn đề xã hội (số 3).

Thượng Hội đồng về Hiệp hành đã dựa trên sự phân định chung không chỉ như một phương pháp để đưa ra những quyết định đúng đắn, mà còn như một thực hành thiêng liêng giúp nuôi dưỡng sự cởi mở trước chân lý và sự gần gũi thân mật với Thiên Chúa. Điều này củng cố khẳng định của Đức Giáo hoàng Lêô rằng chân lý “không phải là một tài sản để độc chiếm” nhưng là một “thiện ích cần được sẻ chia” (số 25). Sự phân định chung đại diện thay thế cho những quyết định hấp tấp vốn có nguy cơ loại trừ cả người khác lẫn Thiên Chúa. Đây là một lối tiếp cận cần thiết nhằm điều tiết trí tuệ nhân tạo cũng như trong nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

Đức Giáo hoàng Lêô cảnh báo rằng nếu không có những quyết định cẩn trọng với sự tham gia của nhiều tầng lớp, trí tuệ nhân tạo sẽ làm gia tăng sự bất bình đẳng và tính loại trừ. Cụ thể, những nguy cơ ấy bao gồm việc suy yếu nền dân chủ, gia tăng nạn thất nghiệp, cũng như đẩy nhanh quá trình biến đổi khí hậu và chiến tranh lên mức thảm khốc. Đức Giáo Hoàng lên án hình thức chuyên quyền như một mối đe dọa đối với tình liên đới và một lần nữa kêu gọi trách nhiệm chung vì công ích. Mặc dù ngài đề cập cụ thể đến trí tuệ nhân tạo, nhưng lời kêu gọi của ngài về vai trò chủ động và tính bổ trợ trong việc đưa ra quyết định còn mang những ngụ ý rộng lớn hơn: “Các cộng đồng và các tổ chức trung gian không được biến thành những người thụ động tiếp nhận quyết định được đưa ra từ nơi khác; họ phải có khả năng đóng góp trong việc phân định và giám sát” (số 108).

Việc Đức Giáo Hoàng Lêô bác bỏ các hình thức chuyên quyền cũng được áp dụng cho chính Giáo hội nhằm củng cố một Giáo hội học mang tính hiệp hành. Ngài kêu gọi Giáo hội nêu gương về tính bổ trợ và theo đuổi công ích ngay trong chính các cơ cấu của mình. Ngài viết “Học thuyết Xã hội không đơn thuần là sứ điệp gởi đến xã hội; mà còn là một cuộc xét mình dành cho chính Giáo hội, một mái ấm và ngôi trường của tình hiệp thông, luôn được mời gọi nhằm bảm đảm cho các nguyên tắc được trình bày trong chương này được áp dụng, đặc biệt trong chính các cơ cấu của mình” (số 86). Như một bước đi mới mẻ, Đức Giáo hoàng Lêô khởi xướng cuộc xét mình như thế ngay trong chính thông điệp: Ngài khẳng định tính hiệp hành là con đường để xây đắp công ích trong Giáo hội, đồng thời bày tỏ sự tiếc nuối về những lần Giáo hội đã duy trì tình trạng bất bình đẳng và gây tổn thương do việc lạm dụng quyền lực (số 89).

      Tại sao tính hiệp hành lại quan trọng vào thời điểm này?

Thông điệp “Magnifica Humanitas – Con Người Cao Cả” được đón nhận rộng rãi vì thế giới đang khao khát một thẩm quyền luân lý về trí tuệ nhân tạo vượt lên trên những giá trị cục bộ của những cá nhân, doanh nghiệp và quốc gia. Tầm quan trọng mang tính hiện sinh của trí tuệ nhân tạo, cùng với tình trạng thiếu các quy định quản lý từ bộ máy chính quyền, khiến tiếng nói của Đức Giáo Hoàng cũng như của những nhà hướng dẫn đức tin khác trở nên vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, đúng vào thời điểm chúng ta cần những cơ chế quản lý ở cấp độ địa phương, quốc gia và quốc tế, thì sự thiếu tin tưởng vào các định chế ấy lại trở nên phổ biến trong nhiều nền văn hóa. Điều này đặc biệt thấy rõ tại Hoa Kỳ, nơi sự mất lòng tin với các thể chế được thể hiện trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, tôn giáo, truyền thông và chính quyền liên bang.

Tính hiệp hành mang lại niềm hy vọng cho Giáo hội và cho nền dân chủ nhờ cách tiếp cận đã được kiểm chứng trong việc phân định chung và tinh thần đồng trách nhiệm. Đức Giáo Hoàng bày tỏ mối bận tâm đối với công ích như một thực tại không nằm ngoài Giáo hội, nhưng là một nguyên tắc định hướng được xây dựng dựa trên các thực hành mang tính hiệp hành. Bên cạnh ngôn ngữ mang tính hiệp hành về sự phân định chung và đồng trách nhiệm, Đức Giáo Hoàng khơi gợi lên hình ảnh mang tính hiệp hành của một Giáo hội lữ hành, đó là cùng bước đi với nhân loại trong dòng lịch sử.

Tiếp nối tinh thần của “Hiến Chế Mục Vụ về Giáo hội Trong Thế Giới Ngày Nay” (Gaudium et Spes), Đức Giáo Hoàng trình bày hình ảnh một Giáo hội đồng hành với nhân loại, đọc các dấu chỉ thời đại và sẵn sàng trả lời bằng sự khôn ngoan của Tin Mừng. Sự phản hồi này không mang tính áp đặt từ xa, nhưng được thực hiện qua sự ân cần lắng nghe, đối thoại và tôn trọng vai trò chính đáng của các thể chế dân sự (số 21). Cách tiếp cận của Đức Giáo hoàng Lêô hoàn toàn tương phản với cách thực thi quyền bính tôn giáo làm suy giảm vai trò của nhà nước và không tương thích với một xã hội đa nguyên hóa.

Cuối cùng, giống như vị tiền nhiệm của ngài là Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Đức Giáo Hoàng Lêô cũng tiếp tục nhấn mạnh vai trò chứng tá ngôn sứ như một cách thực thi thẩm quyền luân lý. Tôi tin rằng cách tiếp cận này sẽ truyền cảm hứng ngay cả cho những người hoài nghi tôn giáo sâu sắc nhất, hầu cộng tác trong việc bảo vệ nhân phẩm và công ích trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo. Đức Giáo Hoàng nói về hình ảnh người Samaritano nhân hậu như một biểu tượng của Giáo hội đang lên tiếng trước nỗi thống khổ của con người bằng tình yêu và sự gần gũi. Có lẽ Thượng Hội đồng về Hiệp hành thực sự đã dẫn chúng ta tới một nhận thức sâu sắc hơn mơ ước của Đức Giáo hoàng Phanxicô về một Giáo hội gần gũi, qua đó chuẩn bị cho Giáo hội khả năng đứng lên bảo vệ nhân phẩm ngay trong chính thời điểm này.

Nguồn: americamagazine.org/

Cha Phêrô Ngô Văn Ngọc, CM. chuyển ngữ.