Tính Hiệp Hành Trong Đoàn Sủng Vinh Sơn (tiếp IIb)

Phần IIb: Khía cạnh hiệp hành trong ba tổ chức Vinh Sơn đầu tiên – Tu Hội Truyền Giáo
Sr Mª Isabel Vergara Arnedillo, D.C.
Giáo hội hiệp hành là Giáo hội lắng nghe những gì Chúa Thánh Thần muốn từ và cho Giáo hội. Thánh Vinh Sơn, trong thời của ngài, là một con người biết lắng nghe; từng chút một trong cuộc đời mình, ngài đã để cho Chúa Thánh Thần nói chuyện với ngài qua các sự kiện, đặc biệt là những sự kiện khiến ngài nghe thấy tiếng kêu khóc của người nghèo.
Đây là điều đã xảy ra khi thành lập Tu Hội Truyền Giáo. Thánh Vinh Sơn đã lắng nghe người đàn ông đang hấp hối ở Gannes và nơi ông, ngài đã lắng nghe tất cả những người nghèo ở vùng nông thôn bị kết án bởi sự thiếu hiểu biết về đức tin, gây ra bởi sự chuẩn bị kém cỏi của hàng giáo sĩ và sự thiếu tận tâm của họ đối với người dân vùng quê. Mặt khác, ngài cũng nghe thấy một người phụ nữ giáo dân, Marguerite de Silly, người mà sau khi nhận thức được thực tế này, đã nói với ngài: “Ôi, thưa cha Vinh Sơn, biết bao nhiêu linh hồn sẽ bị hư mất! Chúng ta có thể làm gì về điều đó?”[1] Chúa đã nói với thánh nhân qua những tiếng kêu than này và Thánh Vinh Sơn đã biết cách đối mặt với thực tế này như thế nào.
Tinh thần “bước đi cùng nhau ” của tiến trình hiệp hành là điều mà Thánh Vinh Sơn đã sống từ lúc ngài bắt đầu con đường thành lập Tu Hội Truyền Giáo. Ngài bắt đầu công việc truyền giáo của mình trên vùng đất của gia đình ông bà de Gondi và vào năm 1618, ngài đã giảng ba kỳ đại phúc tại: Villepreux, Joigny và Montmirail, tất cả đều thuộc lãnh địa của ông bà de Gondi. Nhân dịp mỗi kỳ đại phúc này, ngài đều được một số giáo sĩ đi cùng, tên của họ được JM Román ghi lại trong tiểu sử của vị thánh[2]: Jean Coqueret, tiến sĩ thần học của trường đại học Navarre, cùng với Berger và Gontiére, những người là cố vấn giáo hội cho Nghị viện Paris. Những người khác tiếp theo, và theo thời gian, rõ ràng là cần phải thành lập Tu Hội Truyền Giáo.
Chính bà de Gondi, cùng với chồng là ông Philippe Emmanuel de Gondi, đã thúc giục cha Vinh Sơn thành lập một cộng đoàn mới. Sau đó, cha Vinh Sơn đã mời thêm các linh mục khác tham gia vào sứ vụ này: Anthony Portail, Francis de Coudray và John de la Salle, như được ghi trong Bản Ghi Nhớ của các Nhà Truyền giáo Đầu tiên (CCD XIIIa, 222-223). Đó là cách mà Tu Hội Truyền Giáo ra đời. Sứ mệnh của Tu hội được xác định rất rõ ràng trong Luật Chung: Toàn bộ mục đích của Tu hội là:
1] phải có một cam kết thực sự để thăng tiến trong sự thánh thiện, cố gắng hết sức rập khuôn đời mình theo các nhân đức mà chính Thầy Vĩ đại đã ân cần dạy dỗ chúng ta bằng những gì Người đã nói và đã làm;
2] rao giảng Tin Mừng cứu độ cho người nghèo, đặc biệt ở các miền quê;
3] trợ giúp các chủng sinh và các giáo sĩ thăng tiến trong tri thức và nhân đức, để họ có thể thực thi thừa tác vụ của họ một cách hiệu quả (LC I, #1).
Tương tự như vậy, Hiến Pháp hiện hành nêu rõ: Mục đích của Tu Hội Truyền Giáo là noi theo Chúa Kitô, đấng rao giảng Tin Mừng cho người nghèo. Mục đích này được thực hiện khi các thành viên – trong tư cách cá nhân và cộng đoàn – trung thành với thánh Vinh Sơn:
1] tận lực mặc lấy tinh thần Đức Kitô (LC I, 3) nhằm đạt đến sự trọn lành xứng hợp với ơn gọi của mình (LC XII, 13);
2] chuyên cần rao giảng Tin Mừng cho người nghèo, đặc biệt là những người bị bỏ rơi nhiều hơn;
3] trợ giúp đào tạo giáo sĩ và giáo dân, và dẫn đưa họ tham gia trọn vẹn hơn trong việc rao giảng Tin Mừng cho người nghèo (HP, #1).
Như chúng ta thấy, sứ vụ bao hàm sự tham gia vào Tu Hội Truyền Giáo và không thể khác được, các nhà truyền giáo ở trong Giáo hội để mặc lấy Chúa Giêsu Kitô (CCD XI, 311) và tiếp tục sứ vụ mà họ đã nhận được từ Chúa Cha: Các nhà truyền giáo tuyên xưng mình giống như Chúa Giêsu Kitô, tận tâm với người nghèo. Vì vậy, ơn gọi của chúng ta là sự tiếp nối ơn gọi của Chúa (CCD XII, 71). Theo nghĩa này, từ quan điểm của Chúa Giêsu, Đấng không chỉ kêu gọi mười hai môn đệ mà còn bổ nhiệm bảy mươi hai môn đệ khác đi rao giảng Tin Mừng (Lc 10:1) mà còn có các phụ nữ đạo đức đi cùng, những người đã chu cấp cho Chúa Giêsu và các môn đệ từ chính nguồn lực của họ (Lc 8:3), Tu Hội Truyền Giáo tìm cách thu hút, lôi kéo và đào tạo tất cả mọi người: linh mục, tu sĩ, chủng sinh và giáo dân. Bằng cách này, tất cả được kết hợp với nhau trong việc tìm kiếm những cách thức đáp lại kế hoạch của Thiên Chúa và được hiệp nhất và hiệp thông để làm việc vì việc xây dựng Nước Thiên Chúa, biết rằng Nước Thiên Chúa, trên hết, là dành cho người nghèo.
Một ví dụ rõ ràng về sự tham gia là các kỳ đại phúc trong cộng đoàn, một dự án nền tảng ngay từ khi thành lập Tu Hội Truyền Giáo.
Trong các kỳ đại phúc của cộng đoàn mới này, các nhà truyền giáo dựa vào giám mục và sau đó là các linh mục quản xứ. Điều quan trọng là các thành viên của hàng giáo sĩ địa phương chào đón và ủng hộ công việc của các nhà truyền giáo, và điều rất quan trọng đối với các nhà truyền giáo là đào tạo hàng giáo sĩ địa phương để đảm bảo sự liên tục của việc đại phúc sau khi họ rời khỏi giáo xứ ấy. Thành quả của đại phúc phụ thuộc rất nhiều vào sự liên tục của đại phúc. Thực tế tương tự cũng áp dụng cho các giáo lý viên/giáo viên ở những nơi đó.
Mặt khác, các anh em trong Tu hội cũng dựa vào người dân từ các thị trấn khác nhau, chủ yếu là phụ nữ, những người muốn thành lập Hội huynh đệ Bác ái (tiền thân của hội AIC sau này) để giúp đỡ người dân trong giáo xứ có nhu cầu về vật chất và/hoặc tinh thần. Bằng cách này, các kỳ đại phúc đã có được khía cạnh kép của việc truyền giáo: cung cấp sự cứu rỗi về tinh thần và vật chất cho người nghèo.
Các kỳ đại phúc được hiểu rằng trong Giáo hội, tất cả chúng ta cùng nhau bước đi, cùng nhau vươn tới người khác, mỗi người thực hiện chức năng riêng của mình và tìm cách hiện diện ở mọi chỗ, nơi vương quốc do Chúa Giêsu Kitô khởi xướng, một vương quốc đặt người nghèo làm trung tâm.
Về sự hiệp thông giữa các thành viên trong Tu hội, Luật Chung một lần nữa nhắc nhớ việc noi theo gương Chúa Giêsu Kitô: Đức Giêsu Kitô, Chúa Cứu Thế, xây dựng các tông đồ và môn đệ thành cộng đoàn, và đã trao ban cho họ những hướng dẫn để sống hòa thuận với nhau cách tốt đẹp, cụ thể như là: yêu thương nhau, rửa chân cho nhau, tìm cách hòa giải ngay lập tức với người anh em đang có điều bất hòa với mình, sai đi theo từng cặp, và cuối cùng, nếu có ai muốn làm người lớn nhất trong anh em, thì phải làm người nhỏ nhất (LC VIII:1).
Những phương tiện sau đây được đặt ra cho các anh em: tất cả chúng ta sẽ kính trọng nhau, đối xử với nhau như những người bạn tốt, và luôn sống trong cộng đoàn (LC VIII:2); Trong những cuộc nói chuyện như vậy giữa chúng ta, cũng như trong những cuộc gặp gỡ thông thường đôi khi được tổ chức, cùng với những đề tài khác, chúng ta cố gắng đưa ra thảo luận chủ yếu về những gì giúp chúng ta dấn thân trong ơn gọi của mình cũng như thăng tiến trên đường thánh thiện (LC VIII:8). Hiến Pháp hiện hành của Tu Hội Truyền Giáo coi trọng đời sống cộng đoàn, điều thiết yếu đối với đời sống và sứ vụ của nhà truyền giáo: Giáo hội luôn tìm thấy nguồn gốc tối hậu đời sống và hoạt động của mình trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Tu hội, ở trong Giáo hội, cũng tương tự như vậy.
1] Được quy tụ thành cộng đoàn để công bố tình yêu Chúa Cha đối với mọi người, chúng ta thể hiện tình yêu này trong đời sống chúng ta.
2] Chúng ta bước theo Đức Kitô – Đấng đã kêu gọi các Tông đồ và Môn đệ, và đã cùng chia sẻ đời sống huynh đệ với họ – để rao giảng Tin Mừng cho người nghèo.
3] Dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần, chúng ta xây dựng sự hiệp nhất giữa chúng ta để hoàn thành sứ mạng của mình, cũng như để trình bày một chứng từ đáng tin cậy về Đức Kitô Cứu thế (HP, # 20).
Lm Phêrô Phạm Minh Triều, CM chuyển ngữ từ famvin.org
[1] José María Román, St. Vincent de Paul: A Biography, translated by Sr. Joyce Howard, DC, Melisende, London, 1999, p. 114.
[2] Ibid., 137.
