CÁC CUỘC ĐẠI PHÚC – [Loạt bài về Đời sống Vinh Sơn, Tuần 18]

Đăng ngày: 10 giờ trước
Danh mục: LINH ĐẠO

Từ những năm  1600 đến 1617 là những năm tháng quan trọng trong cuộc đời của Thánh Vinh Sơn. Một tác giả, Jose Maria Roman, gọi những năm tháng này là “việc tìm kiếm và được tìm thấy” — những năm sau khi ngài được thụ phong linh mục cho đến các sự kiện ở Folleville và Chatillon mà chúng ta đã thuật lại trong các bài viết trước.

Đây là những năm tháng khó khăn. Thánh Vinh Sơn dường như bị lạc lối, hoang mang, bị nô lệ hóa, bị khinh miệt và bị thử thách. Nhưng một khi Chúa dẫn dắt ngài đến với người nghèo thông qua các sự kiện trong cuộc đời, ngài đã quyết tâm.

Những năm tiếp theo trong cuộc đời ngài là những năm “trưởng thành” (1618-1633) và các hoạt động phục vụ mà ngài khởi xướng cũng như các nhóm mà ngài tổ chức vẫn tồn tại cho đến tận ngày nay. Trong phần này, tôi xin chia sẻ về “các cuộc Đại phúc”.

Sự kiện thành lập chính là “cuộc đổ xô đến Tòa Giải tội” xảy ra ở Folleville vào ngày lễ Thánh Phaolô Tông đồ trở lại, 25 tháng 1 năm 1617. Chúng ta đã chia sẻ câu chuyện này trước đó — “cuộc Đại phúc đầu tiên”.

Sau trải nghiệm đỉnh cao này, Thánh Vinh Sơn đã tập hợp một nhóm các linh mục với sứ vụ truyền giáo ở các vùng nông thôn nước Pháp, nơi mà hầu hết các linh mục khác không muốn đến đó. Lúc đó chưa có Tu Hội Truyền Giáo; Tu hội này chỉ được thành lập sau này. Những nhóm truyền giáo đầu tiên là các linh mục thuộc giáo phận, những người được Thánh Vinh Sơn truyền cảm hứng để thực hiện sứ vụ truyền giáo. Họ sống cùng nhau trong một cộng đoàn. Họ trở nên rất nổi tiếng đến nỗi người dân bắt đầu gọi họ là “các cha truyền giáo”. Năm 1625, họ được chính thức thành lập Tu Hội Truyền Giáo và lấy ngày 25 tháng 1 làm ngày thành lập.

Theo Pierre Coste, “ngay khi trở về Paris năm 1618, Thánh Vinh Sơn đã lập kế hoạch truyền giáo trên vùng đất của gia đình de Gondi. Folleville đã được truyền giáo vào năm trước đó. Đầu năm 1618, ngài bắt đầu với Villepreux, sau đó là Joigny, Montmirail và các làng xung quanh… Bà de Gondi cũng đóng vai trò của mình: bằng việc bố thí rộng rãi và thăm viếng người bệnh và người nghèo, bà đã góp phần vào sự thành công của những cuộc đại phúc đầu tiên đó.”

Do sự thờ ơ của Giáo hội — cả về vật chất lẫn tôn giáo — đối với người nghèo ở vùng nông thôn nước Pháp, Thánh Vinh Sơn đã chọn cách cống hiến cuộc đời của các nhà truyền giáo của mình cho họ. Hầu hết các linh mục đều muốn sống và làm việc giữa những người giàu có ở Paris. Còn các nhà truyền giáo Vinh Sơn lại chọn làm việc ở vùng nông thôn vì đó là nơi người dân bị bỏ rơi nhiều nhất.

Khi về già, Thánh Vinh Sơn suy ngẫm lại: “Tôi nhớ rằng trước đây, mỗi khi trở về từ một cuộc đại phúc, tôi đều có cảm giác như thể cổng thành Paris sắp sập xuống đè bẹp tôi. Hiếm khi nào tôi trở về từ một đại phúc mà không có ý nghĩ đó trong đầu. Lý do là vì tôi thường suy ngẫm thế này: ‘Ngươi đang vào Paris và kìa, những ngôi làng khác đang chờ đợi để nhận từ ngươi những gì ngươi vừa ban cho ngôi làng này hay ngôi làng kia! Nếu ngươi không ở đó, có lẽ những người này người kia, đang hấp hối trong tình trạng mà ngươi tìm thấy họ, đã bị lạc lối và bị kết án. Họ đang chờ đợi ngươi đến và làm điều tương tự cho họ như ngươi vừa làm cho những người hàng xóm của họ.’”

Họ đã làm gì trong các cuộc đại phúc? Các cuộc đại phúc thực sự diễn ra như thế nào vào thời Thánh Vinh Sơn?

Nhiệm vụ đầu tiên là rao giảng. Nói chung, các nhà truyền giáo đã đưa ra lời khuyên răn và bài giảng trong Thánh lễ sáng sớm lúc 6 giờ. Chúng ta phải hình dung rằng những người dân nông thôn này chủ yếu là nông dân; Các hoạt động nên được sắp xếp sớm để họ có thể ra đồng làm việc. Giáo lý sẽ được dạy cho trẻ em vào buổi chiều, và giáo lý cho người lớn sẽ được dạy vào khoảng 6 giờ chiều khi người nông dân đã về nhà từ những cánh đồng của họ.

Vì đối tượng nghe giảng là những người bình dân học vụ, nên Thánh Vinh Sơn khuyên rằng các bài giảng không nên dùng những từ ngữ cao siêu mà nên dùng giọng văn gần gũi, dễ hiểu với người nông dân. Ngài nói với các nhà truyền giáo của mình: “Tôi đã nói với các anh em nhiều lần rồi, rằng Chúa chúng ta chúc phúc cho những bài giảng được rao truyền bằng giọng văn gần gũi và bình dị, bởi vì chính Ngài cũng đã dạy và truyền giảng theo cách đó.”

Ngài gọi đó là “phương pháp nhỏ”, một cách dễ dàng để phát triển một chủ đề: tại sao, cái gì, như thế nào? Tại sao [chủ đề/đức tính] lại cần thiết (động cơ)? Nó nói về điều gì (bản chất)? Làm thế nào để chúng ta sống theo nó trong cuộc sống của mình (phương tiện)? Nó đi thẳng vào vấn đề, không dùng những từ ngữ không cần thiết và mang tính tâng bốc.

Bốn trăm năm sau, Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhắc nhở chúng ta điều tương tự khi ngài nói về các bài giảng: “Bài giảng có thể là một trải nghiệm sâu sắc và hạnh phúc về Thánh Thần, một cuộc gặp gỡ an ủi với Lời Chúa, một nguồn đổi mới và tăng trưởng liên tục… Chúng nên tìm cách để Lời Chúa được thể hiện trong một hoàn cảnh cụ thể… thế nên bài giảng phải ngắn và tránh mang dáng dấp của một bài diễn văn hay thuyết trình” (Evangelii Gaudium, 135-138).

Vào mỗi cuối dịp của sáu hoặc mười tuần truyền giáo tùy thuộc vào nhu cầu của địa phương, các tổ chức trọng thể được cử hành như lễ rước lễ lần đầu cho trẻ em, hoặc xưng tội và rước lễ chung cho người lớn. Những lễ kỷ niệm mang tính biểu tượng này vẫn còn in đậm trong ký ức của mọi người. Trước khi các nhà truyền giáo rời đi, “toàn thể giáo xứ đã đi rước đến một nơi có dựng một cây thánh giá lớn, như một kỷ niệm về những thành quả của đại phúc.”

Chúng ta đã cách xa thời Thánh Vinh Sơn hàng thế kỷ. Nhưng công việc truyền giáo và tái truyền giáo vẫn là chương trình mục vụ của Giáo hội đương đại. Ngày nay, công việc này có thể mang những hình thức mới phù hợp với hoàn cảnh của chúng ta, nhưng công việc mà Thánh Vinh Sơn đã khởi xướng vẫn cần thiết.

Những Kitô hữu Công giáo đã được rửa tội từ lâu cần được khơi dậy đức tin. Ở những nơi như Philippines, nơi dân số Công giáo khá đông nhưng đức tin Kitô giáo lại ít được thực hành, cần phải đánh thức đức tin trong dân chúng. Nhiều dòng tu như Dòng Chúa Cứu Thế đã cống hiến mình cho cái gọi là “truyền giáo bình dân- hay đại phúc” (truyền giáo ở giữa dân chúng).

Các anh em Vinh Sơn tại Philippines có một đội truyền giáo thường trực mà công việc duy nhất của họ là khơi dậy đức tin một lần nữa. Một kinh nghiệm như vậy được tìm thấy trên trang web này. Xem thêm: https://famvin.org/…/vincentian-popular-mission-in…/

Đại học Adamson cũng chia sẻ cùng một sứ vụ. Xem thêm: https://web.facebook.com/reel/2404336010027703

Mục tiêu dài hạn của các cuộc đại phúc không chỉ là tái truyền giáo mà còn là tổ chức các giáo xứ thành các Cộng đoàn Cơ bản về Kitô giáo, Nhân văn và Sinh thái. Việc đào tạo các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản (BEC) đã là tầm nhìn của Giáo hội Philippines trong PCP II.

Gần đây, thách thức của việc Tân Phúc âm hóa là đào tạo các Cộng đoàn Cơ bản về Nhân văn (BHC) không chỉ bao gồm các Kitô hữu Công giáo mà còn cả các cộng đồng bao gồm khác đến từ các nhóm bị thiệt thòi trong tinh thần hiệp thông và đối thoại liên tôn; và các Cộng đoàn Cơ bản về Sinh thái, coi việc chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta là một phần không thể thiếu trong việc tổ chức cộng đồng của chúng ta trong tinh thần của Laudato Si.

Những gì Đức Giáo hoàng Phanxicô viết trong Evangelii Gaudium đã chạm đến cốt lõi của linh đạo Vinh Sơn. Thánh Vinh Sơn Phaolô nói qua ngài trong thời đại chúng ta.

Đức Giáo hoàng Phanxicô viết trong Evangelii Gaudium: “Sứ mệnh của tôi giữa lòng dân không chỉ là một phần của đời tôi hay một cái phù hiệu mà tôi có thể gỡ bỏ; nó không phải một cái gì ‘phụ thêm’ hay chỉ là một khoảnh khắc khác trong cuộc đời. Trái lại, nó là một cái gì tôi không thể dứt bỏ khỏi mình nếu không muốn tiêu diệt chính mình. Tôi là một sứ mệnh trên trái đất này” (Evangelii Gaudium, # 273).

Cha Daniel Franklin E. Pilario, CM (Adamson University-Manila)

Ban Truyền thông chuyển ngữ.