041. Đức khó nghèo, thành lũy bảo vệ Tu Hội Truyền Giáo

0
120

Tác giả: Robert P. Maloney, C.M
Chuyển ngữ: Gialiemcm

Hỡi đoàn chiên bé nhỏ, đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em. Hãy bán tài sản của mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy những túi tiền không hề cũ rách, một kho tàng không thể hao hụt ở trên trời, nơi kẻ trộm không bén mảng, mối mọt không đục phá. Vì kho tàng của anh em ở đâu, thì lòng anh em ở đó.

Lc 12,32-34

Chú ý đến sự khác biệt về những hoàn cảnh và nơi chốn, mỗi Tỉnh dòng và các Cộng đoàn địa phương cần phải tìm kiếm những phương cách thực thi đức khó nghèo Tin Mừng và xét duyệt chúng định kỳ, với thâm tín rằng đức khó nghèo không chỉ là thành trì bảo vệ Tu Hội (x. LC. III, 1), nhưng đó còn là điều kiện cho việc canh tân, và là dấu chỉ sự thăng tiến ơn gọi của chúng ta trong Giáo hội và trong thế giới.

QC 27, 2

“Mối ràng buộc”, “thành lũy”, “nền tảng”[1] là những hạn từ mà thánh Vinh Sơn thường dùng để ngụ ý rằng đức khó nghèo là ơn cứu độ của Tu Hội, còn của cải sẽ bị mục nát.[2]

1. Ai không có đức khó nghèo thì chẳng thể sống cũng như kiên định trong Tu Hội được

Thánh Vinh Sơn thường tự chất vấn mình: điều gì sẽ xảy đến cho Tu Hội nếu nó dính bén với của cải vật chất của thế gian này? Câu trả lời của ngài cho phép chúng ta thấy trước những điều sẽ xảy ra:

Các thánh nói với chúng ta rằng đức khó nghèo là mối ràng buộc của bậc sống tu trì. Như thế, có thế nói đức khó nghèo là mối ràng buộc của các cộng đoàn, đặc biệt cho cộng đoàn chúng ta đây hơn các cộng đoàn khác. Đức khó nghèo là mối dây ràng buộc, kéo ta ra khỏi những sự thế gian và chỉ gắn bó với một mình Chúa.[3]

Không có đức khó nghèo thì không thể đạt tới một đời sống bình an trong cộng đoàn như cộng đoàn chúng ta được, vì không những không thể tiến tới một đời sống thiện hảo, mà còn cả việc không thể bền đỗ lâu dài trong Tu Hội. Bởi làm sao một người chỉ nghĩ về việc thỏa mãn những ham hố như: thích có thời gian thuận tiện, ăn uống ngon, sống nhàn rỗi qua ngày, (thực tế thì dù những người đó không nhắm thỏa mãn việc thu tích của cải) tôi nhắc lại, làm sao một người có thể thực hiện những nhiệm vụ của Tu Hội Truyền Giáo được? Rất khó để nghĩ hai điều trái ngược ấy lại đồng thời xảy ra, chúng hoàn toàn không thể dung hòa được.[4]

2. Không thể dung hòa giữa của cải với các nhân đức của người tông đồ

Đức khó nghèo tạo điều kiện cho việc canh tân. Mỗi khi mong muốn đổi mới mình, Giáo Hội nhắm vào người nghèo và tái hiến thân hầu thực hành đức khó nghèo. Đức khó nghèo giải phóng chúng ta, hầu nhìn nhận và thuận theo kế hoạch của Đấng Quan Phòng. Chúng ta hãy dừng lại và gẫm suy những lời sau đây của thánh Vinh Sơn khi ngài nói với hai nhà truyền giáo:

Anh em thân mến, tôi băn khoăn về đức khó nghèo mà anh em đang sống, và cảm thấy bất lực khi tôi không thể làm gì trong tình cảnh mà anh em đang gặp phải. Tuy nhiên, anh em hãy trân trọng đức khó nghèo của Chúa chúng ta là Đức Giêsu, chính Người sẽ ban cho anh em những kho tàng không hề hư hoại. Tổn thất hiện tại của anh em sẽ mang lại một sự tràn đầy ở đời sau, và sự thật là có nhiều thứ khiến chúng ta phải sợ hơn là sự túng thiếu. Một ngày kia, tôi đang nói chuyện với một nhà truyền giáo về cộng đoàn mà cha ấy đang sống, cha ấy nói rằng: “Thưa cha, khi túng bấn, chúng con không sống tách biệt và cách ly với người khác, mà vẫn phục vụ Chúa, sống bình an, nhiệt thành với anh em, và rồi các nhu cầu của chúng con đã được Chúa đáp ứng”.[5]

Một nhà truyền giáo khác đã viết cho cha Vinh Sơn:

Bề trên dòng Đa Minh ở thành phố này đã nói với con về nỗi bất hạnh vừa mới xảy đến cho cộng đoàn của ngài, khi họ toan sống xa cách sự Quan Phòng của Chúa (điều này đã xảy ra khi cộng đoàn xây dựng những tòa nhà kiên cố để sống, và có một cuộc sống an toàn, tiện nghi)… dường như không thể dung hòa được giữa sự dồi dào của cải vật chất với những đòi hỏi những nỗ lực tông đồ. Quả thực, con thấy sự thật là của cải vật chất sẽ làm sụp đổ mọi nỗ lực tông đồ.[6]

3. Sẽ nói gì về đây, nếu Tu Hội không thực hành đức khó nghèo?

Ngày từ đầu, Hiến Pháp của chúng ta gọi đức khó nghèo là dấu chỉ về sự trưởng thành trong ơn gọi mỗi người; dấu chỉ cho Giáo hội và cho thế gian; dấu chỉ của sức sống tông đồ; dấu chỉ về sự trung thành bước theo Đức Giêsu:

Thưa anh em, hãy cẩn trọng, vì bất cứ ai để mình dính dáng với của cải mau hư hoại của thế gian này, người đó sẽ bị mắc bẫy, sẽ bị những gai nhọn đâm và trói chặt chúng ta bằng gông cùm của nó. Điều đó thật bất hạnh khi nó xảy đến cho Tu Hội, bởi anh em sẽ nói gì nữa và làm thế nào anh em sẽ tồn tại được? Hay anh em sẽ nói: ‘chúng tôi có hàng ngàn đồng lợi tức để sống, cứ thoải mái đi, sao cứ phải cực nhọc trong làng mạc thế này? Sao phải vất vả quá thế? Cứ để mặc người nghèo ở thôn quê như thế đi; hãy để các cha xứ chăm sóc họ, nếu họ muốn; ta cứ sống thoải mái mà không cần phải bận tâm về điều này’. Biếng nhác như thế là hệ quả của một tinh thần hám lợi, họ sẽ quay quất với việc bo bo giữ những của cải thế tục và đeo đuổi lòng tự mãn, sau đó họ sẽ nói “tạm biệt” với công tác của sứ vụ và rơi vào tính ích kỷ, cuối cùng họ sẽ đi tới chỗ diệt vong… Thật cần thiết để tra vấn lại những trang sử để học hỏi những tấm gương tuyệt vời trong đó, rằng sự giàu sang và dư dật của cải thế tục là nguyên nhân đưa tới sự suy đồi, không những nơi nhiều người Kitô hữu, mà còn nơi toàn thể các Tu Hội, Hội Dòng nữa, bởi họ đã thất trung với tinh thần ban sơ về đức khó nghèo.[7]

*** Tôi sử dụng và chăm lo thế nào về những tài sản của cộng đoàn địa phương, của tỉnh dòng và của Tu Hội?

*** Tôi có nghiệm thấy một sự thật là cộng đoàn càng nghèo khó thì cộng đoàn sẽ càng sinh động và sống trong hòa thuận hơn không?

Cầu nguyện

Lạy Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ giàu lòng xót thương, chúng con khiêm tốn cầu xin Chúa ban cho chúng con ân sủng để chúng con thực hành đức khó nghèo, một nhân đức thánh thiện cho phần rỗi đời đời của chúng con. Chúa đã trở nên người như chúng con, xin dạy chúng con tinh thần nghèo khó, như thế chúng con có thể nghiệm thấy cùng một tình yêu mà Chúa đã có nơi nhân đức này. Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.


[1] “Về Đức Khó Ngèo”, ngày 6 tháng 6 năm 1655, O.C., xi, số 138; “Về Đức Khó Ngèo”, ngày 13 tháng 8 năm 1655, O.C., xi, số 145, 148; “Về Đức Khó Ngèo”, ngày 14 tháng 11 năm 1659, O.C., xi, số 649; “Về Nhân Đức Khó Nghèo”, không có ngày tháng năm, O.C., xi, số 772.

[2] “Dính Bén Với Của Cải Vật Chất”, không có ngày tháng năm, O.C., xi, số 773.

[3] “Về Đức Khó Ngèo”, ngày 6 tháng 6 năm 1655, O.C., xi, số 138.

[4] “Về Đức Khó Ngèo”, ngày 13 tháng 8 năm 1655, O.C., xi, số 149.

[5] “Về Đức Khó Ngèo”, ngày 13 tháng 8 năm 1655, O.C., ii, số 397.

[6] Ibid, số 395-396.

[7] “Dính Bén Với Của Cải Vật Chất”, không có ngày tháng năm, O.C., xi, số 773.