Thập giá trong linh đạo Vinh Sơn

Đăng ngày: 27/02/2026
Danh mục: LINH ĐẠO

THẬP GIÁ TRONG LINH ĐẠO VINH SƠN [1]

Cha Robert Maloney, C.M

 

Có lẽ không có cuốn sách thiêng liêng nào đã được đọc rộng rãi hơn là cuốn sách Gương Phúc. Trong hàng trăm năm nay, hàng triệu linh mục, tu sĩ, giáo dân nam nữ đã đọc và suy niệm về cuốn sách đó. Thánh Vinh Sơn và Thánh Louise đã thường xuyên đề nghị đọc nó với những người theo các ngài.[2] Ít nhất cho đến những năm gần đây, với nhiều bài đọc hàng ngày của một phần nhỏ của sách Gương Phúc là một phần của cuộc sống chúng ta. Trong những đoạn văn hùng hồn nhất của cuốn sách là những câu nổi tiếng:

Chúa Giêsu luôn có nhiều người yêu quý thiên đàng, nhưng ít người vác thập giá của Ngài. Chúa Giêsu có nhiều người ao ước sự an ủi, nhưng ít người lưu tâm đến thử thách. Chúa Giêsu có nhiều người muốn chia sẻ bàn tiệc thánh, nhưng ít người muốn tham dự việc chay tịnh của Ngài. Mọi người đều muốn hạnh phúc với Ngài; nhưng ít ai muốn đau khổ vì Ngài. Nhiều người theo Chúa đến việc bẻ bánh, nhưng ít ai uống chén đắng của Ngài. Nhiều người tôn sùng phép lạ của Chúa; ít ai gần với sự tủi hổ của Thập Giá. Nhiều người yêu mến Chúa khi không gặp khó khăn; nhiều người chúc tụng và ngợi khen Chúa khi họ được Ngài an ủi. Nhưng nếu Chúa Giêsu lánh mặt và bỏ rơi họ chỉ chốc lát, họ sẽ than phiền hoặc thực sự chán ngán.[3]

Những lời dạy trong Phúc Âm, nền tảng của những lời lẽ thẳng thắn này, đã để lại ấn tượng sâu sắc và lâu dài trong lòng Thánh Vinh Sơn và Thánh Louise. Chương này sẽ tập trung vào:

  1. Thập giá trong Tân Ước
  2. Thập giá trong truyền thống Vinh Sơn
  3. Một số vấn đề trong việc suy tư về thập giá
  4. Một số suy tư về thập giá hôm nay

  1. Thập giá trong Tân Ước

Thập giá và sự phục sinh là trung tâm của Tin Mừng. Đối với các tác giả Tân Ước, Chúa Giêsu không thể thoát khỏi giờ của mình. Ngài phải trải qua thập giá nếu Ngài bước vào vinh quang của Ngài. Những người theo Ngài cũng phải đón nhận thập giá mỗi ngày. Nhưng thập giá của Đức Kitô, cũng như của những người theo Ngài, luôn luôn được nhìn từ quan điểm của niềm tin phục sinh.

Tân Ước nhắc nhớ sứ điệp của thập giá lặp đi lặp lại. Dưới đây tôi đưa ra một vài văn bản quan trọng nhất theo thứ tự thời gian.

Một số bản văn cơ bản

Trong thư gơi tín hữu Galat, Thánh Phaolô viết: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giê-su Kitô, Chúa chúng ta! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian” (Gl 6,14).

Trong lá thư được viết sớm này, Thánh Phaolô đã viết cho người Galat có lẽ khoảng năm 54 sau công nguyên[4]. Thánh Phaolô bước vào trong cuộc tranh luận với những người Kitô hữu chủ trương giữ luật Do thái, họ tự hào về phép cắt bì và tuân thủ theo luật pháp. Thánh Phaolô tuyên bố rằng không có sự tuân thủ bên ngoài nào (luật, các quy tắc ăn uống, cắt bì) là quan trọng, điều quan trọng là một người được tái sinh trong Đức Kitô. Ngài chỉ tự hào về quyền năng của Thiên Chúa, Đấng tôn cao sự yếu đuối của con người trong Chúa bị đóng đinh trên thập tự giá. Trong một đoạn trước đó của cùng bức thư này, ngài viết: “quả thế, tại vì lề luật mà tôi đã chết đối với lề luật, để sống cho Thiên Chúa. Tôi cùng chịu đóng đinh với Đức Kitô vào thập giá. Tôi sống nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2, 19-20). Ở đây và ở nơi khác, Thánh Phaolô khẳng định rằng qua phép rửa, người Kitô hữu đã được đồng nhất với cuộc thương khó của Đức Giêsu, sự chết và sự sống lại của Ngài. Người sống và chết cùng với Chúa Kitô có một nguồn năng lượng hoạt động mới bên trong mình, đó là Chúa vinh hiển, Đấng đã trở thành Thần Khí ban sự sống (xem 1 Cr 15, 45).

“Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giê-su:

Đức Giê-su Ki-tô

vốn dĩ là Thiên Chúa

mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì

địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,

nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang

mặc lấy thân nô lệ,

trở nên giống phàm nhân

sống như người trần thế.

Người lại còn hạ mình,

vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,

chết trên cây thập tự.

Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người

và tặng ban danh hiệu

trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.

Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giê-su,

cả trên trời dưới đất

và trong nơi âm phủ,

muôn vật phải bái quỳ,

và để tôn vinh Thiên Chúa Cha,

mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng:

‘Đức Giê-su Ki-tô là Chúa’” (Pl 2: 5-ll).

Bài thánh thi này có lẽ được viết trong khoảng từ 54 đến 57 sau công nguyên, Thánh Phaolô sử dụng bài thánh thi để trình bày bức tranh về Đức Kitô “tự hủy”. Chúa Kitô trở thành một trong chúng ta. Ngài tự nguyện mang lấy thân phận nô lệ và chịu cái chết nhục nhã của những người đã đánh mất mọi quyền công dân, đó là đóng đinh trên thập tự giá. Hành động tự hiến thân của Chúa Giêsu nhận được sự đáp lại tích cực từ Thiên Chúa, Đấng đã tôn vinh Ngài trong sự phục sinh với tư cách là Chúa tể của vũ trụ. Như vậy, quyền cai trị của Thiên Chúa trên toàn bộ tạo vật được phục hồi thông qua sự tự hạ mình của Chúa Giêsu.

“Thật thế lời rao giảng về thập giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa” (1Cr 1,18).

Thư Côrintô được viết khoảng năm 55 sau công nguyên, và biết rằng cộng đoàn đang bị xé toạc vì sự chia rẽ, Thánh Phaolô nói rằng các tiêu chuẩn của nhân loại sa ngã – loại quyền lực và sự suy đoán triết lý mà thế giới dựa vào – hoàn toàn vô ích. Quyền năng và sự khôn ngoan của Thiên Chúa được mạc khải nơi những con người “yếu đuối”. Sức mạnh của tình yêu khổ giá, mà lý luận của con người thường không hiểu, là sức mạnh đích thực của các tín hữu.

“Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1, 19-20).

Trong bản văn này, được viết trễ theo truyền thống Phaolô, có lẽ giữa 70 và 80 sau công nguyên, tác giả sử dụng một bài thánh thi Kitô giáo sơ khai để trình bày một tầm nhìn vũ trụ về Chúa Kitô, Đấng hoạt động trong công trình sáng tạo và trong Giáo hội. Nơi nào có sự bất hòa, Chúa Kitô tạo ra hòa bình. Ngài là Đấng hòa giải tối cao. Đấng mà trong Ngài sự trọn vẹn của Thiên Chúa và của công trình sáng tạo của Thiên Chúa ngự trị, đã hiến dâng chính mình cho Cha trong cái chết của Ngài. Khi làm như vậy, Ngài đã hiến dâng cùng với mình tất cả các tạo vật trên trời và dưới đất.

“Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. Quả vậy ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất còn ai liều mất mạng sống vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Vì người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì?”(Lc 9, 23).

Tin Mừng thánh Luca, có lẽ được viết trong khoảng năm 80-85 sau công nguyên, tập trung vào việc bước theo Đức Kitô. Như Luca viết, ngài liên tục ghi nhớ không chỉ chính Chúa Giêsu, đặc biệt trong hành trình của Ngài đến Giêrusalem, mà còn với chúng ta, các độc giả, các môn đệ sẽ theo Chúa Giêsu trên hành trình đó. Hình bóng của thập giá nằm trên các trang Tin Mừng với sự “tra cứu cẩn thận” của Luca (Lc 1: 3), nhưng nó được làm sáng tỏ bởi lời hứa về sự phục sinh (xem Lc 9:23, 14:27, 17:25, 24: 7, 24:26, 24:46). [5] Thập giá đóng một vai trò “thiết yếu” trong lịch sử cứu độ. Trong khi Luca nhấn mạnh đến ý nghĩa cứu rỗi của cái chết của Chúa Giêsu một cách mạnh mẽ, sự nhấn mạnh của Ngài chuyển động một cách tinh tế tới sức mạnh cứu độ của sự phục sinh. Tuy nhiên, bi kịch và mầu nhiệm của cây thập giá mang hình bóng to lớn. Sử dụng chữ “thập giá” theo nghĩa ẩn dụ, Luca nhấn mạnh sự cần thiết tuyệt đối để môn đệ từ bỏ mình, vác lấy thập giá của mình và bước theo Chúa Giêsu.[6]

“Mắt hướng về Đức Giêsu là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin. Chính người đã khước từ niềm vui dành cho mình, mà cam chịu khổ hình thập giá, chẳng nề chi ô nhục, và nay đang ngự bên hữu ngai Thiên Chúa” (Hr 12, 2).

Bản văn này, về thời gian và tác giả thì không chắc chắn, nhưng là một “lời khích lệ” (Hr 13:22). Tác giả trình bày Chúa Giêsu, Đấng đang ngồi bên hữu Chúa Cha, như là khuôn mẫu cho sự bền bỉ của những gian khổ. Tác giả dùng mẫu gương này để khuyến khích các người lãnh nhận phải kiên trì cho tới khi kết thúc vinh quang của cuộc đời. Niềm vui tương lai của sự phục sinh mang lại ý nghĩa mới cho thập giá.

Một số ý tưởng cơ bản trong các bản văn này:    

Những bản văn này làm nổi bật thập giá, nhưng tất nhiên, sự tập trung cuối cùng của bản văn là về con người của Chúa Giêsu chịu đóng đinh và phục sinh. Thập giá là biểu tượng cho sự tự hiến hoàn toàn của Ngài. Chính Chúa Giêsu là Đấng cứu độ, là sự sống và sự phục sinh của chúng ta. Ngài là sự mặc khải cuối cùng tình yêu của Chúa Cha đối với chúng ta. Ngài cứu dân của Ngài khỏi tội lỗi của họ. Ngài là lời hứa cánh chung. Trong Ngài, sự khao khát hạnh phúc của con người được hoàn trọn.

Như đã thấy trong các bản văn, các tác giả Tân Ước đã phát triển thần học khác nhau của việc cứu chuộc, có thể nói Thánh Phaolô là người tiên phong. Các bản văn trình bày Chúa Giêsu là trung tâm của lịch sử cứu độ, như sự hoàn thành của các vị ngôn sứ.  Bởi vì có một lịch sử tội lỗi, vì vậy cũng có một lịch sử cứu chuộc. Chúa Giêsu giải phóng tội lỗi của loài người. Ngài là Con Chiên hiến tế, dâng hiến chính bản thân mình để chuộc tội.

Sự chết của Chúa Giêsu cũng được trình bày như một sự kiện vũ trụ. Sức mạnh của sự dữ ở trong công trình thế giới đã bị đánh bại. Chúa Giêsu vượt qua chúng. Ngài chiến thắng vinh quang vượt trên tội lỗi, bệnh tật và sự chết. Chúa Cha đã bên cạnh Đấng chịu đóng đinh bằng cách nâng Ngài trỗi dậy từ kẻ chết.

Nhưng khi đọc những bản văn này, điều rất quan trọng là không cô lập cái chết của Chúa Giêsu khỏi cuộc đời của Ngài.[7]  Ý nghĩa cứu rỗi của cái chết của Chúa Giêsu có liên quan đến điều mà Ngài đã rao giảng và những gì đã bị từ chối. Chúa Giêsu đồng nhất hóa với kẻ bị ruồng bỏ, kẻ nghèo, kẻ bất lực. Trong cái chết của Ngài, cũng như trong cuộc sống, Ngài là một trong số họ. Do đó, có một sự liên tục rõ ràng giữa cách sống của Ngài và cái chết của Ngài, lời rao giảng và sự từ chối của Ngài. Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá bắt nguồn từ sự lựa chọn của Ngài dành cho người nghèo khổ và người bất lực. Ngài cho thấy bản thân tự do tuyệt đối trước quyền lực của thế giới này. Ngài chỉ trích những người đặt những gánh nặng áp bức lên người khác. Nhưng bản thân Ngài không có quyền lực. Vì vậy, kẻ áp bức, kẻ quyền thế, chối bỏ Ngài. Cái chết của Ngài bằng cách đóng đinh là cái chết của những người không có quyền lực gì.

Ngày nay chúng ta thường nói về Kitô học, và thần học về ơn cứu chuộc, chẳng hạn như có các hình thức “Kitô học đi lên” và “Kitô học đi xuống”. Các sách Phúc Âm Nhất Lãm, bắt đầu bằng những hồi ức về các sự kiện cụ thể “ở trần gian này”, theo dõi sự thăng thiên của Chúa Giêsu qua cuộc đời, cái chết và sự phục sinh của Ngài đến vinh quang của Chúa Cha. Trong tư tưởng của Gioan, cũng như trong nhiều thần học Kitô giáo của các Giáo phụ và thời Trung cổ, điểm khởi đầu là “ở trên cao”, nơi Ngôi Lời ở cùng Thiên Chúa từ thuở ban đầu. Tuy nhiên, trong tất cả các thần học này (đi lên, đi xuống, và nhiều hình thức ở giữa), trọng tâm là con người của Chúa Giêsu, người mà tình yêu hy sinh đã thúc đẩy Ngài hi sinh mạng sống mình cho những người bạn hữu: những người đồng hành của Ngài cả khi đó và bây giờ.[8]

Ngoài việc tập trung vào chính con người của Chúa Giêsu thông qua biểu tượng thập giá của Ngài, trong các văn bản được trích dẫn ở trên, còn xuất hiện cách sử dụng ẩn dụ của từ “thập giá”, bắt nguồn từ những lời dạy của Chúa Giêsu. Trong cách sử dụng này, “thập giá” đề cập đến những đau khổ mà những người theo Chúa Giêsu trải qua. Đối với người tín hữu trung thành, thập giá là:

  • Cho đi cuộc sống của một người
  • Là được đón nhận mỗi ngày
  • Mang đến sự giàu có hơn là “cứu sống” cuộc sống của một người
  • Chỉ có thể chịu được nhờ quyền năng của Chúa Kitô trong chúng ta
  • Cảm thấy bị khờ dại với “thế gian”
  • Nhu cầu tha thứ tội lỗi
  • Kiến tạo hòa bình
  • Là nguồn mạch của niềm vui và dẫn đến niềm vui

  1. Thập giá trong truyền thống Vinh Sơn

Trong thời đại của khoa chú giải, chúng ta ngày càng ý thức được bối cảnh lịch sử hưởng nhiều đến chúng ta như thế nào. Giống như tất cả chúng ta, Thánh Vinh Sơn và Thánh Louise đã chỉ là những người con trong thời đại của các ngài. Trong bối cảnh đó, các ngài được giáo dục tốt, nhưng cũng không phải là một nhà thần học lý thuyết. Cả hai đều hấp thụ nền “thần học tiêu chuẩn” trong thời đại của các ngài. Vì các ngài có một cảm xúc thực tế nên các ngài đã tránh được những cực đoan của một số những người đương thời. Nhưng cũng giống như những người đương thời, cả hai đều tập trung vào thập giá mà ít nhắc đến việc phục sinh. Nó dường như hơi lạ với người hiện đại, đây là điều khá đặc trưng của thần học thế kỷ XVII ở Pháp.

Ngôn ngữ của các biểu tượng

Các biểu tượng thường nói nhiều hơn lời nói. Chúng thể hiện không chỉ nội dung trí tuệ, mà còn là những cảm xúc sâu đậm về cá nhân, tình cảm mà những từ ngữ khó có thể diễn đạt. Thánh Louise và thánh Vinh Sơn đều nhận ra tầm quan trọng của biểu tượng thập giá như một cách để truyền đạt chiều sâu tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta.[9]

Huy hiệu của các Nữ Tử Bác Ái, được sử dụng từ năm 1643, là một trong những biểu hiện tầm quan trọng của thập giá trong tâm trí của Thánh Louise và Thánh Vinh Sơn. Hiến Pháp hiện tại của các Nữ Tử mô tả như sau:

Huy hiệu của Tu Hội Nữ Tử Bác Ái gồm một trái tim bao quanh bởi ngọn lửa, với một thập giá phía trên. Thập giá được bao quanh bởi phương châm: Tình yêu của Đức Kitô chịu đóng đinh thúc bách tôi. Là những gì hoạt hóa và thiết lập trái tim của Nữ Tử Bác Ái, thúc bách các chị nhanh chóng xoa dịu đi mọi loại đau khổ của con người.

Phần kết trong nhiều lá thư của thánh Louise, thường được đóng dấu với hình ảnh được mô tả ở trên, đồng thời cũng bày tỏ bằng lời nói về sự tôn kính cá nhân của bà đối với Chúa chịu đóng đinh, sử dụng các từ khác nhau: “Tôi là… trong tình yêu của Chúa Giêsu bị đóng đinh …trong tình yêu của Thiên Chúa và của Người Con bị đóng đinh của Người, tôi là …”[10]

Hơn nữa, với các thông tin thư từ giữa Thánh Vinh Sơn và Thánh Louise, giữa cả các Đấng Sáng Lập và hai Tu Hội, rõ ràng là thập giá đóng một vai trò quan trọng trong sự tôn kính của rất nhiều Nữ Tử và thành viên Tu Hội Truyền Giáo. Các chị em thường cầu xin được thập giá, và Thánh Louise đi ra khỏi con đường của mình để đạt được chúng.[11] Thánh Vinh Sơn tuyên bố rằng các nhà truyền giáo không bao giờ mà không có thập giá (SV XI, 378).

Thập giá cũng đóng một vai trò nổi bật trong phương pháp cầu nguyện mà Thánh Vinh Sơn đã dạy, đặc biệt đối với các Nữ Tử Bác Ái, một số người cho rằng họ có quá ít việc được học phương pháp để cầu nguyện tốt, không biết đọc hoặc viết như thế nào.[12] Ngài bảo đảm với họ rằng cầu nguyện tốt có ít mối quan hệ với cách đọc và viết, và khuyến khích họ sử dụng những hình ảnh. “chị em nghĩ rằng tất cả sự khôn ngoan của đại thánh Bonaventura ở đâu mà có?” Cha nói với các Nữ Tử Bác Ái, “ấy là trong cuốn sách thiêng liêng của thập giá” (SV IX, 217). Cha cũng kể cho họ nghe câu chuyện về một người khen ngợi Thánh Tôma Aquinô về những tư tưởng tuyệt diệu của vị thánh về Thiên Chúa và thánh nhân đã nói như thế nào với người khâm phục ngài- rằng ngài sẽ cho anh ta thấy thư viện của ngài, sau đó ngài đã dẫn anh ta đến với thập giá (xem SV IX 32). Thánh Vinh Sơn đã nói với các Nữ Tử Bác Ái rằng, trong khi chỉ có một số người có thể sử dụng các phương pháp cầu nguyện giống như những gì được mô tả trong cuốn Khởi đầu đời sống đạo đức (Introduction to the Devout Life) của Thánh Phanxicô Salê, mọi người có thể đặt chính mình dưới chân thập giá trong sự hiện diện của Thiên Chúa. Nếu chị ấy không có gì để nói, chị ấy có thể đợi cho đến khi Thiên Chúa nói chuyện với chị ấy (xem SV IX, 50).

Thật vậy, đối với Thánh Vinh Sơn không có lời cầu nguyện nào đẹp lòng Thiên Chúa hơn là việc nguyện gẫm hàng ngày về sự thương khó và cái chết của Chúa chúng ta (x. SV X, 569).

Các bút tích của Thánh Vinh Sơn và Thánh Louise

Các bản văn mà Thánh Vinh Sơn và Thánh Louise nói về thập giá là quá nhiều để trích dẫn một cách triệt để. Hơn nữa các bài đàm luận của các ngài về thập giá, thường được đọc qua loa, không có sự phổ biến rộng rãi (mặc dù Thánh Louise chiêm niệm về thập giá một cách rõ ràng trong một nguyện gẫm ngắn được viết ra trong những năm sau đó, xem SW 775-76). Đàm luận về sự phục sinh, như đã đề cập ở trên, là tương đối ít. Tôi trình bày ở đây, theo cách tổng hợp, một phân tích ngắn gọn về ý nghĩa của thập giá như hai vị thánh nói về thập giá và viết về thập giá trong những bối cảnh rất đa dạng.

Thập giá – biểu tượng tình yêu của Thiên Chúa qua sự mặc khải trong Chúa Giêsu

“Nguyện xin tình yêu của Thiên Chúa và của Chúa Giêsu bị đóng đinh được tôn vinh muôn đời!” Thánh Louise đã thốt lên vào lúc kết thúc lời cam kết thánh hiến mà bà đã ký tên (SW 694).

Cả hai vị thánh đều thường chăm chú vào tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta (xem SV IX, 269). Thập giá là biểu tượng tình yêu của Chúa Cha, như đã được mặc khải trong cái chết của Con Ngài. Trong những suy niệm của các ngài đều ở trên thập giá và trái tim của Chúa Giêsu, hai vị thánh thường nhắc nhở những người theo các ngài về tình yêu sâu thẳm của Thiên Chúa đối với chúng ta như thế nào. Vào ngày 5 tháng 7 năm 1641, thánh Louise viết cho chị Elizabeth Martin: “Tôi cầu xin Chúa Giêsu yêu dấu của chúng ta bị đóng đinh gắn chặt chúng ta vào thập giá của Ngài, để chúng ta có thể liên kết chặt chẽ với Ngài bằng tình yêu của Ngài và những đau khổ nhỏ bé của chúng ta và con người nhỏ bé chúng ta có thể hoàn thành ở trong và vì tình yêu của Ngài, trong đó những gì tôi sống, thưa chị, là người đầy tớ và người nữ khiêm tốn” (SW 54).

“Chúa chúng ta đã nói trước về tình yêu của Ngài”, Thánh Vinh Sơn viết cho cha Portail “những người mà Ngài mong muốn tất cả mọi người tin tưởng vào Ngài” (SV I, 295). Sự xác tín của cả Thánh Vinh Sơn và Thánh Louise là cụ thể và mạnh mẽ: chúng ta tin tưởng và yêu mến những người mà chúng ta cảm nhận được tình yêu. Chúa Giêsu, khi chết trên thập giá, đã cho thấy tình yêu sâu thẳm của Thiên Chúa.

Là một Nữ Tử Bác Ái thì cũng là một Nữ Tử của thập giá

Yêu thương người lân cận và đặc biệt là phục vụ người nghèo, chắc chắn sẽ liên quan đến “thập giá”, theo nghĩa ẩn dụ, trên thực tế, là một Nữ Tử Bác Ái, thì là một Nữ Tử của tình yêu (SV IX 53, X, 459, 474), có nghĩa là trở nên đồng nhất với Chúa chịu đóng đinh. Vào lúc cuối đời thánh Vinh Sơn viết cho Avoie Vigneron (SV Vll, 241):

“Chấp nhận đau khổ như là một món quà từ tay của [người Cha] Thiên Chúa, và cố gắng dùng nó ích lợi. Hãy giúp chị em của chị mang lấy thập giá của mình, vì thập giá của chị thì không nặng như thập giá của những chị em ấy. Hãy làm cho chị em ấy nhớ rằng chị ấy là Nữ Tử Bác Ái và rằng chị ấy phải bị đóng đinh trên thập giá với Chúa của chúng ta và chấp nhận sự hài lòng và lòng tốt của Ngài để không trở nên hoàn toàn bất xứng với một người cha xứng đáng.” Thánh Vinh Sơn viết cho Thánh Louise trong một lần bà bị đau bệnh: “Tôi đã học được về bệnh tật của bà khi tôi trở lại, điều đó đã làm tôi đau buồn. Tôi cầu xin Chúa chúng ta hồi phục lại cho bà sức khỏe hoàn hảo, điều đã làm tôi hạnh phúc khi lần cuối cùng tôi gặp bà. Vâng, bà là Nữ Tử của thập giá, Ôi hạnh phúc biết bao!” (SV I. 342).

Cũng giống như vậy, Thánh Louise thừa nhận rằng ơn gọi của bà có nghĩa là đồng nhất với thập giá. Trong một suy niệm về bác ái, thánh nữ viết: “Thiên Chúa, Đấng đã ban cho tôi rất nhiều ơn sủng, dẫn dắt tôi để hiểu rằng đó là thánh ý của Ngài, mà tôi đến với Ngài qua thập giá” (SW 711). Trong một khoảng thời gian rất dài trong cuộc đời của thánh nữ, viết về tình yêu thuần khiết mà chúng ta đã khấn hứa với Chúa và nhu cầu dành hoàn toàn cho Ngài, thánh nữ nói: “Như bằng chứng đó, con sẽ đi theo Ngài đến chân thập giá là những gì con đã chọn như là tu viện của con” (SW 828).

Vì có rất ít tài liệu tham khảo rõ ràng về sự phục sinh, người ta có thể tưởng tượng tinh thần này để đón lấy những âm điệu ảm đạm. Với Thánh Vinh Sơn, đây không phải là trường hợp. Thánh nhân khuyến khích các Nữ Tử vui vẻ, mỉm cười trong khi phục vụ người nghèo. Đôi khi, tuy nhiên, ngài đã phải thực hiện việc chống lại một xu hướng quá mức nơi Thánh Louise, khích lệ thánh nữ, ví dụ, khi bà sắp sửa cuộc hành trình với sự vui tươi hơn với bà Goussault: “Xin hãy vui vẻ với bà ấy, vì thế bà nên giảm bớt một chút căng thẳng là tâm tính hơi nghiêm trọng mà bản tính đã ban tặng cho bà và những gì ân sủng là được tôi luyện bởi lòng thương xót của Thiên Chúa” (SV I, 502).

Thập giá và sự quan phòng

Cả hai vị thánh đều có lòng tin tưởng sâu sắc nơi sự quan phòng. Trong cuộc sống của các ngài, các ngài càng ngày càng tin tưởng hơn về tình yêu của Thiên Chúa đối với các ngài và tiến triển trong niềm tin rằng Thiên Chúa luôn luôn làm việc trong các biến cố xảy ra, cho dù vui mừng hay đau khổ. Thánh Vinh Sơn nói với các nhà truyền giáo trong năm trước khi ngài qua đời: “Thưa anh em, anh em nên nghỉ ngơi trong sự chăm sóc yêu thương của sự quan phòng của Ngài.  Đừng lo lắng cho mình về bất cứ điều gì ngoại trừ tìm kiếm nước Thiên Chúa, vì sự khôn ngoan vô hạn của Ngài sẽ cung cấp cho tất cả phần còn lại” (SV XII, 142).[13] Cả hai vị thánh xem thập giá như là một phần của sự quan phòng đó.

Vào ngày 26 tháng 3 năm 1653, Thánh Louise viết cho chị Jeanne Lepintre: “Có lẽ vì lý do đó, chị yêu dấu của tôi, rằng Chúa của chúng ta truyền cảm hứng cho chị để duy trì bình an dưới chân thập giá của Ngài, để hoàn toàn phục tùng sự hướng dẫn của sự quan phòng thiêng liêng của Ngài. Dường như với tôi, chị em rất yêu dấu của tôi, chị đã tìm được một hòn đá quý về sự sùng mộ khi sự giải quyết của Ngài sẽ làm dịu những lo lắng của chị” (SW 416). Trong thời gian thử thách hoặc đau khổ, cả hai vị thánh đều nhắc nhở cộng đoàn của họ rằng họ đang chia sẻ, dưới sự quan phòng của Chúa, trong thập giá của Chúa Kitô.

Gần cuối đời, Thánh Louise viết cho chị Franyoise Carcireux: “tuy nhiên, chúng ta, đặc biệt là toàn thể Tu hội phải chấp nhận thử thách này như là từ sự quan phòng của Thiên Chúa, như là sự chia sẻ của chúng ta trong thập giá của Chúa chúng ta và như một cơ hội mà Ngài đã cho phép chị em theo Ngài với tất cả khả năng của chúng ta” (SW 668). Một năm trước đó, Thánh Vinh Sơn đã tuyên bố tương tự trong Luật Chung của Tu Hội Truyền Giáo: “Nếu sự quan phòng thiêng liêng cho phép một ngôi nhà hoặc một thành viên của Tu Hội, hoặc của chính Tu hội, phải chịu, do vu khống hoặc bách hại… chúng ta phải ngợi khen và chúc tụng Chúa, và vui mừng tạ ơn Ngài vì nó như một cơ hội để làm điều tốt đẹp xảy đến từ Chúa Cha của ánh sáng” (CR II, 13).

Hiệp nhất với Đức Kitô chịu đóng đinh và sống bằng quyền năng của Thiên Chúa

Trong cuốn “những suy niệm về thập giá”, Thánh Louise kêu lên: “Ôi Thập giá! Ôi đau khổ! Chúa thật đáng yêu biết bao, vì tình yêu của Thiên Chúa đã nhường chỗ cho Chúa trong Con Ngài để nhờ Chúa mà ban quyền năng ban thiên đàng cho những ai đã đánh mất nó vì dục vọng!” (SW 776).[14]

Chỉ khi nào người ta sẵn lòng chết với Đức Kitô thì mới thấy được sức mạnh để sống như những người theo Ngài. Ngược lại, chỉ bằng cách sống với Chúa Kitô mà chúng ta học cách để chết. Thánh Vinh Sơn viết cho cha Portail “Hãy nhớ rằng, thưa cha, chúng ta sống trong Đức Giêsu Kitô bởi cái chết của Đức Giêsu Kitô, và chúng ta phải chết trong Đức Giêsu Kitô bởi sự sống của Đức Giêsu Kitô, và sự sống của chúng ta phải là ẩn dấu trong Đức Giêsu Kitô và đầy tràn Đức Giêsu Kitô, và để chết giống như Đức Giêsu Kitô, cần phải sống giống như Đức Giêsu Kitô” (SV I, 295).

Sự thánh thiện thật sự bắt nguồn từ thập giá, nơi mà quyền năng của Thiên Chúa làm việc trong chúng ta. Giữa những nỗi lo về người con trai, Thánh Louise hỏi Thánh Vinh Sơn: “Xin cha hãy quảng đại cầu xin Thiên Chúa tốt lành, nhờ lòng thương xót của Ngài, cho thằng con của con có thể tham dự một ngày vào công trạng và cái chết của Chúa Giêsu bị đóng đinh, nguồn sống của tất cả sự thánh thiện”(SW 184).

Trong một tiếp cận lá thư gởi cho Jeanne Lepintre, bà cũng viết: “Hãy nói với các chị em chúng ta rằng người dân Nantes đang phản đối họ mạnh mẽ hơn họ tưởng, và trong những vấn đề quan trọng. Tuy nhiên, chính kẻ ác đang giở trò này sẽ không thắng được, miễn là họ quy tụ lại và đoàn kết dưới chân thập tự giá, như những chú chim non dưới cánh mẹ khi cú mèo rình mồi” (SW 213).

Thánh Vinh Sơn, khi nói với các nhà truyền giáo về sự tử đạo của Pierre Borguny đã tuyên bố rằng: “Can đảm lên, hỡi anh em của tôi! Hãy tin tưởng rằng Chúa của chúng ta sẽ củng cố chúng ta trong thập giá mà Ngài mang đến cho chúng ta, thật tuyệt vời, khi Ngài thấy rằng chúng ta yêu thập giá và đó là chúng ta tin tưởng vào Ngài” (SV XI, 392).

Một con đường đặc ân

Cả hai vị thánh đều hoàn toàn tin tưởng về điều này. Các ngài lặp lại điều đó với nhau và với những người theo các ngài. Trong một lá thư viết vào thời điểm trước năm 1634, Thánh Vinh Sơn nói với Thánh Louise: “Chúa chúng ta sẽ thấy được vấn đề này, đặc biệt nếu bà đang hạnh phúc dưới chân thập giá nơi bà hiện diện và là nơi tốt nhất trong thế giới này bà có thể làm được. Vậy hãy hạnh phúc ở đó, thưa bà và đừng sợ gì cả” (SV I, 152).

Trong một lá thư kết hợp nhiều chủ đề được mô tả ở trên, thánh Louise viết cho Charlotte Royer, sử dụng ngôn ngữ gợi nhớ lại cuốn Gương Phúc “chị biết rõ rằng, thưa chị yêu dấu của tôi, rằng con đường mà Chúa muốn chị đến với Ngài là con đường hoàng gia của thập giá” (SW 527). Bà nói với hai chị Nữ Tử Catherine Baucher và Marie Donion: “Vâng, các chị em thân mến của tôi, danh dự cao quý nhất mà chị em có thể nhận được là mang lấy thập giá của Ngài để theo Chúa Giêsu Kitô” (SW 535).

Trong cuốn “Những suy niệm về thập giá”, bà nói rằng “những linh hồn được Thiên Chúa chọn lựa rất đặc biệt tương lai để đau khổ” (SW 775). Chiêm niệm về bác ái, bà tự nói về mình: “Thiên Chúa, Đấng đã ban cho tôi rất nhiều ân sủng, đã cho tôi hiểu rằng đó là thánh ý của Ngài mà tôi đến với Ngài qua thập giá. Sự tốt lành của Ngài đã ghi dấu tôi bằng sự ra đời của tôi và Ngài hầu như không bao giờ rời bỏ tôi, dù ở tuổi nào, mà không có một chút đau khổ”(SW 711).

Chúa Giêsu trên thập giá như một cách để khích lệ người khác

Hai đấng sáng lập đã trải qua nhiều khổ đau: nỗi đau khổ của người nghèo, sự tàn phá của chiến tranh, đau khổ khi khai sinh ra hai Tu hội mới, những khó khăn trong đời sống cộng đoàn cũng như những năm sau đó, những chỉ trích từ bên trong và bên ngoài cộng đoàn, cuộc đấu tranh nội bộ của các ngài, bệnh tật, cái chết của những người bạn thân nhất, cái chết của chính các ngài. Hai vị mang những thập giá này như là một phần của sự quan phòng của Thiên Chúa.

Nhưng các ngài cũng nhận ra rằng không phải mọi thập giá phải được mang lấy, vì đôi khi những đau khổ liên quan có thể được khắc phục. Chẳng hạn, Thánh Louise viết cho chị Elizabeth Brocard, một chị phục vụ mới: “Nếu một số ít nguyên nhân gây ra khổ đau, hãy khiêm tốn và chấp nhận nó như một thập giá để được yêu mến bởi vì Chúa của chúng ta đã cho phép chị chịu đựng nó. Điều này không có nghĩa là, nếu những đau khổ của chị liên tục, chị đừng che dấu không cho chúng tôi biết về chúng hay chúng tôi sẽ không cố gắng hết sức để đáp ứng những nhu cầu của chị đâu, hỡi chị thân mến của tôi” (SW 449).

Những thập giá khác phải chịu đựng với sự dũng cảm, vì đặt chúng sang một bên sẽ gây ra nhiều đau khổ cho người khác. Tốt hơn hết là yêu lấy sự đau khổ của một người khi người ta trải nghiệm nó. Thánh Louise viết cho chị Joan Lepintre“và mang nó đến chân của thập giá, hoặc để cho chị phục vụ biết về nó, hơn là tìm kiếm cách để được thoát khỏi đó mà trả một giá quá mắc”(SW 269).

Thập giá được đặt ra đặc biệt là khi Thánh Vinh Sơn và Thánh Louise nói về bệnh tật. Viết cho chị Frantcoise Carcireux về bệnh tật mà chị Charlotte đã phải chịu đựng, Thánh Louise tuyên bố: “Chúa chúng ta có thể sử dụng chúng [bệnh tật] để thánh hóa chị ấy bằng các giá trị của cuộc sống thánh thiện và cái chết quý giá của Ngài cho chúng ta trên thập giá” (SW 526). Nói về cái chết của chị Barbe Angiboust, thánh nữ viết: “Trong thời gian bệnh tật, Thiên Chúa tôn vinh chị ấy bằng những dấu ấn tuyệt vời nhất của một người phụ nữ Kitô hữu chân chính và người tôi tớ của Thiên Chúa bằng cách ban cho chị ấy ân sủng để phù hợp ý chí của chị ấy với ý của Ngài, để khơi lên những suy nghĩ thường xuyên của chị ấy với Chúa Giêsu chịu đóng đinh và để thực hành sự kiên nhẫn tuyệt vời”(SW 629).

  1. Một số vấn đề suy niệm về Thập giá

Người Do Thái và dân ngoại đã xem thập giá chỉ là “chướng ngại” và “sự dại dột”. Ở cấp độ thần học, luôn có những khó khăn trong việc đối phó với thập giá, và hơn nữa đồng hóa với vấn đề sự dữ.

Một số khó khăn trong việc phát triển thần học về thập giá bắt nguồn từ sự khác biệt trong cách nhận thức Thiên Chúa.[15] Cả hai bộ Kinh thánh Do thái và Kitô giáo đều khen ngợi Thiên Chúa dưới hai khía cạnh: một mặt, là trên hết mọi loài thụ tạo, hoàn toàn siêu việt. Mặt khác, Ngài liên quan mật thiết với các thụ tạo của Ngài và cảm thấy những đau khổ của họ: Thiên Chúa chịu đau đớn cho dân của Ngài.[16]

Khi Kitô giáo tiến vào thế giới Hy Lạp, đã gặp phải một quan niệm Hy Lạp về Thiên Chúa mà không dễ dàng đi vào một sự hiệp nhất hài hòa với khía cạnh nội tại của sự hiện diện của Thiên Chúa trong Kinh Thánh: Thiên Chúa trong thế giới Hy Lạp đã hoàn toàn khép kín, vượt lên trên thế giới, không thể bị ảnh hường bởi bởi hành động hoặc đau khổ của con người. Do đó, cuộc hôn nhân giữa các khía cạnh nội tại của quan điểm Kinh Thánh về Thiên Chúa và khái niệm của Hy Lạp về Thiên Chúa đã có một lịch sử cứng nhắc như đá. Vào thời kỳ đại kinh viện, quan điểm Hy Lạp đã có ảnh hưởng lớn: Thiên Chúa là Thiên Chúa không thể đau khổ, Thiên Chúa chỉ đau khổ trong bản tính nhân loại của Chúa Giêsu. Sự khác biệt này khác với quan điểm của Hôsê, khi cho thấy Thiên Chúa với trái tim thổn thức, ruột gan rối bời để nói về cơn giận của Ngài (xem Hs 11: 8).

Nhưng nhiều tâm trí và trái tim nơi người hiện đại tìm thấy những ảnh hưởng của người Hy Lạp về quan niệm kinh viện khó được chấp nhận. Dường như họ đặt Thiên Chúa ở một khoảng cách rất xa những người đau khổ. Vào thập niên 1940, ngay trước khi ông qua đời, Dietrich Bonhoeffer đã viết rằngchỉ có một vị Thiên Chúa đau khổ mới có thể giúp được”. Trong những năm 1950, Jácques Maritain đã nói: “Chúng ta cần đến sự hiệp thông đau khổ với Thiên Chúa, vì ý tưởng về một Thiên Chúa vô cảm và thờ ơ là đáng khinh bỉ đối với dân chúng.” Trong những năm 1960 và 1970, một loạt bài luận của Karl Rahner đã khám phá thêm câu hỏi đó. Vào những năm 1980, cả hai mặt của vấn đề đã được đưa ra rõ ràng, những bài thuyết trình mạnh mẽ trong cuốn Thiên Chúa chịu đóng đinh của Jiirgen Moltmann và trong Chúa Giêsu và Đức Kitô của Edward Schillebeeckx.

Moltmann muốn tìm kiếm sự rõ ràng trong thần học về một Thiên Chúa đau khổ. Moltmann hiểu rằng, những đau khổ của Thiên Chúa, không phải là sự thiếu hụt trong thần tính của mình, nhưng vì Ngài tự do lựa chọn bị ảnh hưởng bởi những gì ảnh hưởng đến người khác. Mặt khác, Schillebeeckx trong một cách tiếp cận gần gũi hơn với truyền thống cổ điển, cho rằng Thiên Chúa không đau khổ. Thay vào đó, hãy chống lại điều dữ trong Chúa Giêsu và liên kết với những người đau khổ, vượt qua đau khổ qua sự hiện diện thương xót của Ngài. Sự hiện diện này là trung gian “bí tích” trong Chúa Giêsu và trong những người chia sẻ cuộc sống của Chúa Giêsu, chống lại bất công.[17]

Bất kể bên nào trong cuộc tranh luận một người có thể thông cảm với nhau, trong tất cả thể văn này đã có một danh hiệu khác cho Chúa Giêsu, “Chúa Giêsu, Lòng Thương Xót của Thiên Chúa”.[18]

Trên một mức độ lý thuyết-thực hành, có một mối nguy hiểm kéo dài, và không có nghĩa là vắng mặt ngày hôm nay, rằng “thập giá” đôi khi có thể được xem như sự tưởng tượng. Đó là, như một lập luận biện minh cho hành vi áp bức. Trong một xã hội không công bằng, ví dụ, nó có thể được sử dụng như một công cụ để khuyến khích người nghèo chấp nhận bất công trong âm thầm.

Trong những năm sau hội nghị Medellin năm 1968, một phê bình mạnh mẽ đã được phát triển giữa các nhà thần học, đặc biệt ở châu Mỹ Latinh, về vai trò thần học và lòng đạo đức bình dân đã đóng vai trò hỗ trợ các tình huống bất công. Có thể không nhấn mạnh quá nhiều về Đấng bị đóng đinh, Đức Kitô chịu chết, Ngài đã trở nên hiền lành như một Con Chiên bị đem đi giết, đau khổ chính đáng như ý Chúa? Liệu nó không nuôi dưỡng một tư tưởng khi nói rằng: chấp nhận thập giá một cách nhã nhặn và bạn sẽ nhận được cuộc sống vĩnh cửu? Và điều này không làm việc cho lợi thế của kẻ áp bức sao?

Ngược lại, Kitô hữu phải nỗ lực vì hạnh phúc của tất cả mọi người và vì sự giải phóng khỏi những cấu trúc ưu ái thiểu số hơn đa số, người giàu hơn người nghèo, một nhóm chủng tộc, xã hội hay tôn giáo này đối với những người khác. Trên thực tế, giải phóng khỏi áp bức là một trong những dấu hiệu của vương quốc. Người Kitô hữu không thể đứng yên trong im lặng trước sự bất công.

Thay vào đó, người ấy phải sẵn sàng chịu đựng vì mục đích của công lý. Trong khi người ta chắc chắn phải phân biệt giữa tiến bộ vật chất và sự  xuất hiện của vương quốc của Thiên Chúa, tuy nhiên, đời sống của vương quốc, vốn đã hoạt động trong các tín hữu, thúc đẩy người Kitô hữu hoạt động để “mang Tin Mừng đến người nghèo, tuyên bố tự do cho những người bị giam cầm, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức” (x Lc 4: 18).[19]

Thật không may, các hệ tư tưởng áp bức có thể hiện diện không chỉ trong xã hội dân sự mà còn trong Giáo hội và đời sống tôn giáo nữa. “Chấp nhận” có thể được tôn vinh hơn là sự phê bình xây dựng. Những tiếng nói kêu gọi sự thay đổi hoặc những tình cảnh thay đổi cần thiết có thể bị đẩy lùi hoặc im lặng.

Có một vấn đề thứ ba có thể nảy sinh trên mức độ cá nhân, mức độ khổ hạnh: sự bóp méo trong thực hành khổ hạnh. Theo truyền thống Vinh Sơn, những “thập giá” tự nguyện luôn được thực hành với sự tiết độ (xem CR X, 15). Chúng phải luôn luôn được nhìn nhận như là một chức năng của mục tiêu tông đồ và cộng đoàn của một người, chúng phải giúp chúng ta phục vụ người nghèo cùng nhau sống tốt, cầu nguyện tốt.

Rõ ràng là đối với Thánh Vinh Sơn và Thánh Louise những nhu cầu “thập giá” quan trọng nhất trong cuộc đời không cần phải được tạo ra. Chúng tự đến với mình. Điều này không có nghĩa là không có chỗ cho kỷ luật cá nhân và cho những thực hành được lựa chọn khôn ngoan, đòi hỏi sự hy sinh bản thân để đạt được những mục tiêu đã đề ra. Tuy nhiên, điều đó có nghĩa là những sự khổ hạnh tự nguyện phải phù hợp với ơn gọi của các thành viên trong các hội dòng tông đồ.

  1. Một số suy niệm về Thập giá hôm nay

Từ những gì đã được viết ở trên, tôi tin tưởng điều rõ ràng rằng “lòng sùng kính thập giá” không chỉ là một sự sùng kính cá nhân “tùy hứng” hay “thực hành khổ hạnh cá nhân”. [20] Thay vào đó, nó chạm đến cốt lõi của Tin Mừng, vì thập giá là biểu tượng cho tình yêu cứu độ của Chúa Giêsu.[21]

Thực tại lịch sử của thập giá là trung tâm của mạc khải. Đó là “bí tích” của tình yêu Thiên Chúa dành cho thế giới và về sự đáp trả đầy đủ của con người đối với tình yêu đó.[22] Vì thế, thập giá của Chúa Kitô không nằm ở ngoại vi của đời sống Kitô hữu, nơi nó có thể được liệt kê trong một loạt các việc sùng kính. Đúng hơn, nó là cốt lõi của Kinh Tin Kính: “chịu nạn đời quan Phong-xi-ô Phi-la-tô, chịu đóng đanh trên cây Thánh Giá, chết và táng xác, xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết sống lại; lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng; ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.”

Biểu tượng thập giá, trung tâm của Tin Mừng, nói với chúng ta, cũng như với mọi lứa tuổi, nhưng với những sự cụ thể khác nhau. Nó nói mạnh mẽ với chúng ta ít nhất như sau:

Chúa Giêsu bị đóng đinh, trong tình yêu thương đầy đau khổ của Ngài, đứng ở trung tâm đức tin của chúng ta, được Chúa Cha phục sinh, hoàn toàn sống động

Tác giả của lá thư thứ nhất gởi cho Timôthê nói với chúng ta rằng sự viên mãn của lẽ thật trong “Người là Đức Giêsu Kitô, người tự hiến chính mình” (1Tm 2: 5-6). Do đó tất cả các linh đạo Kitô giáo tập trung vào Chúa Giêsu bị đóng đinh và phục sinh. Ngài là đường, là sự thật, và sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Ngài.

Thập giá là biểu tượng của những gì là cốt lõi của con người của Chúa Giêsu: “căn cứ vào điều này, chúng ta biết được tình yêu là gì, đó là Đức Kitô đã hiến mạng vì chúng ta, như vậy cả chúng ta nữa, chúng ta phải thí mạng vì anh em” (1Ga 3, 16). Chúa Giêsu chịu đóng đinh tuyên bố rằng tình yêu tự hiến là trọng tâm của sự hiện hữu của Thiên Chúa và sự hiện hữu của con người. Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này “Thiên Chúa đã sai con một đến thế gian để nhờ con một của Người mà chúng ta được sống. Tình yêu cốt ở điều này không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta. Anh em thân mến nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế chúng ta cũng phải yêu thương nhau” (1 Ga 4: 9-11).

Không gì có thể nuôi dưỡng nhà truyền giáo hay các Nữ Tử Bác Ái hơn là tập trung vào tình yêu của Thiên Chúa, trong đó thập giá là biểu tượng. Kinh nghiệm cá nhân của nhà truyền giáo về tình yêu này sẽ khiến anh ta tuyên bố điều đó như là Tin Mừng. Trải nghiệm cá nhân của các Nữ Tử Bác Ái sẽ giúp chị ta chia sẻ nó như là sự chữa lành. Tình yêu mà Chúa Giêsu tỏ ra qua biểu tượng của thập giá là:

  • Tự hiến
  • Hy tế
  • Tha thứ
  • Chữa lành
  • Hiệp nhất
  • Trung thành với bạn bè
  • Không có quyền lực
  • Trong tình liên đới với người yếu đuối
  • Tin tưởng vào quyền năng của Thiên Chúa

Trong bối cảnh Vinh Sơn của chúng ta, nguyện gẫm thường xuyên về thập giá, như là biểu tượng của tình yêu thương của Thiên Chúa dành cho chúng ta và tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa luôn giữ vai trò quan trọng. Hãy cho phép tôi đề nghị áp dụng nguyện gẫm các bản văn sau, đề cập đến một cách rõ ràng hoặc ẩn ý đến thập giá và tập trung vào tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta như được mặc khải nơi con người của Chúa Giêsu: Ga 3: 16-17; Ga 13: 1-17; 1 Ga 4: 9-10; Ep 1: 3-14; Gc 1: 17-18; Lc 9:23.

Như đã thấy từ trong các bản văn, trong Tân Ước thập giá hơn cả một mẫu gương.[23] Nó nói về những con đường của Thiên Chúa. Nó tiết lộ rõ chiều sâu tình yêu của Ngài. Nó tuyên bố rằng quyền năng của Thiên Chúa sẽ chiến thắng những mưu đồ xấu xa của con người. Kinh Thánh cho thấy sự khôn ngoan đích thực không nằm ở thế lực tà ác, mà ở tình yêu thương chịu khổ. Kinh thánh dẫn dắt chúng ta vào mầu nhiệm Phục Sinh.

Tất cả những nhà truyền giáo, tất cả các Nữ Tử Bác ái-tất cả mọi người-sẽ đau khổ

Tất nhiên, một số đau khổ có thể, và nên tránh được. Tuy nhiên, quy tắc bất thành văn trong sự tồn tại của con người, và những người bước theo Đức Kitô là sự đau khổ và cái chết là không thể tránh khỏi. Những lời nổi tiếng của Dietrich Bonhoeffer, được viết bằng lời ngôn sứ vài năm trước khi ông bị hành quyết, đã nắm bắt thực tại một cách rõ nét: “Khi Đức Kitô kêu gọi một người, Ngài bảo người đó hãy đến và chết.”[24]

Tình yêu hy sinh của Chúa Giêsu mang ý nghĩa cho nhiều “thập giá” mà những người theo Ngài được kêu gọi gánh chịu. Do đó, trong cuộc đời của một nhà truyền giáo và Nữ Tử Bác Ái, xin cho phép tôi đề nghị rằng thập giá ngày hôm nay, nơi những người bước theo Chúa Kitô, có thể mang những hình thức đặc biệt sau:

  • Làm việc hàng ngày, kiên trì trong việc phục vụ người nghèo
  • Chia sẻ sự bất lực và đau đớn của người bị loại ra bên lề[25]
  • Đứng với những người bị bỏ rơi và đau khổ trong sự liên đới với họ vì lợi ích công lý[26]
  • Làm chứng cho các giá trị phúc âm trong một hoàn cảnh không được thông cảm
  • Chấp nhận những biến cố không hài lòng chúng ta, nhưng chúng ta không thể làm gì
  • Chia sẻ một số tình trạng thiếu thốn của người nghèo[27]
  • Chịu đựng bệnh tật, của chúng ta và của người khác
  • Đi tới sự lão hóa vì tuổi tác
  • Đón nhận cái chết của bạn bè
  • Trải nghiệm cái chết của chính mình

Đối mặt với sự đau khổ và cái chết không thể tránh khỏi luôn là, và sẽ mãi mãi là, một nhiệm vụ khó khăn. Nhưng trong thời đại mà người ta kỳ vọng sự thỏa mãn tức thì, thách thức này càng trở nên khó khăn hơn. Dù khó chấp nhận đến đâu – và dù người ta có thể diễn đạt chân lý này bằng những từ ngữ tích cực hơn – thì cái chết chính là trọng tâm của đời sống tâm linh Kitô giáo, chết để được sống. Chắc chắn người ta có thể tranh luận, khi xem xét cuốn “Gương Phúc”, liệu những thực hành cụ thể được mô tả trong Tân Ước có thể được đòi hỏi ở mỗi Kitô hữu (đi vào sa mạc, thức đêm cầu nguyện, cách sống nghèo khó thực tế của Chúa Giê-su) hay không, nhưng điều chắc chắn là: “Mỗi Kitô hữu, mọi lúc, đều noi theo Chúa Giêsu bằng cách chết cùng Ngài; việc noi theo Chúa Giêsu có chân lý, hiện thực và tính phổ quát tối thượng trong việc noi theo Đấng chịu đóng đinh.”[28]

Những ngừơi bước theo Đấng chịu đóng đinh thì hành động tối cao của đức tin. Nó là một sự từ bỏ trong hy vọng và tình yêu vào mầu nhiệm không thể hiểu nổi của Thiên Chúa.[29]

Đấng chịu đóng đinh chịu đau khổ nơi “những người bị đóng đinh” và trong con người của “những người bị đóng đinh”

Tội lỗi tiếp tục hoạt động trong thời của chúng ta, đóng đinh Chúa của lịch sử (xem Hr 6: 6). Thành viên Tu Hội Truyền Giáo và Nữ Tử Bác Ái nhìn thấy Ngài bị đóng đinh mỗi ngày. Nhưng thật dễ dàng để “thế gian” quên đi: 5.7 triệu người người dân Haiti, những người đã quá nghèo nàn trong thời gian dài đến nỗi hoàn cảnh của họ không có gì mới hơn. 2.5 triệu người tỵ nạn Bosnia là nạn nhân của nạn “thanh trừng sắc tộc”. 1,5 triệu người Somali trên bờ vực của cái chết do nạn đói.[30] Thách đố là nhận ra hình ảnh bên ngoài Thiên Chúa bị đóng đinh, và như Thánh Vinh Sơn và Thánh Louise, để nâng cao ý thức của người khác đối với hoàn cảnh của họ. Sự chiêm ngắm Chúa chịu đóng đinh không thể chỉ là một bài tập đạo đức, cũng không phải chỉ đơn giản là nguyện gẫm về một sự kiện trong quá khứ. Thiên Chúa sống trong các con cái của Ngài. Ngài bị đóng đinh trên thập giá trong từng cá nhân và trong những người đau khổ. Ơn gọi là để nhìn thấy Ngài và phục vụ Ngài ở đó.

Một trong những món quà tuyệt vời của hai đấng sáng lập là khả năng nhận biết Đức Kitô trong sự đối mặt với những đau khổ và động viên năng lực của người khác trong việc phục vụ của các ngài. Các ngài là những nhà tổ chức phi thường. Để giúp đỡ người bị bỏ rơi nhiều nhất trong thời đại của các ngài, các ngài tập hợp lại với nhau tất cả những người giàu và nghèo, nữ giới và nam giới, giáo sĩ và giáo dân. Các ngài biết cách để sử dụng cụm từ hùng hồn của Jon Sobrino, rằng “dân chúng bị đóng đinh” đem lại sự cứu rỗi cho chúng ta, khi chúng ta nỗ lực để đưa họ xuống khỏi thập giá.[31]

Chúng ta được Phúc Âm hóa bởi thập giá, và chúng ta rao giảng Tin Mừng bằng thập giá

Tình yêu sự chết của Chúa Giêsu là trung tâm của Tin Mừng. Đó là nguồn hy vọng sâu sắc nhất của chúng ta. Ngài đã hiến mạng sống cho những bạn hữu của mình – là chính chúng ta!

Thập giá, trong Tân Ước, luôn luôn được nhìn thấy dưới ánh sáng của sự phục sinh. Nếu không có sự sống lại, thập giá vẫn là bóng tối. Nhưng, hơn nữa trong niềm tin của Tân Ước, không có sự phục sinh mà không có thập giá.

Vì thế, thập giá của Chúa Kitô đứng vững trong sự phục sinh làm trun tâm của Tin Mừng mà chúng ta tin tưởng. Đồng thời, thập giá nói cho chúng ta biết Thiên Chúa yêu thương chúng ta sâu xa như thế nào. Thập giá truyền giáo cho chúng ta.

Tuy nhiên, bên cạnh thập giá của Chúa Giêsu, thập giá của các tín hữu Ngài cũng có thể truyền bá Tin Mừng cho chúng ta. Cuộc sống của chúng ta có thể được biến đổi bởi tình yêu thương chịu đau khổ của những người theo Chúa Giêsu, những người gánh chịu đau khổ của Ngài trong thân xác mình: những người bệnh, những người can đảm chịu đựng bệnh tật; những người đau buồn, những người vẫn hy vọng; những người sắp chết, những người tin tưởng rõ ràng vào sự phục sinh.

Và chẳng phải Chúa Giêsu đã rao giảng Tin Mừng cho chúng ta qua những thập giá khác, “vô danh” hơn sao: nỗi thống khổ của những người đói khổ ở châu Phi, cái chết của vô số các vị tử đạo và những người mất tích ở Mỹ Latinh, sự cô đơn của các nạn nhân AIDS hay những người vô gia cư, nỗi đau đớn và sự bỏ rơi của người già? Chẳng phải những thập giá này cũng kêu gọi chúng ta vượt ra khỏi bản thân để thể hiện lòng đoàn kết với những người đang đau khổ sao? Chẳng phải chúng tuyên bố với chúng ta rằng cốt lõi của Tin Mừng nằm ở tình yêu thương đầy lòng trắc ẩn dành cho những người bị bỏ rơi nhất sao? Chẳng phải chúng kéo chúng ta ra khỏi sự cô lập để hướng tới tình yêu hy sinh sao?

Những “dân tộc bị đóng đinh” có nhiều điều để dạy chúng ta: tha thứ cho những kẻ áp bức họ, hy vọng trong những hoàn cảnh tưởng chừng như vô vọng, sẵn lòng chia sẻ những gì ít ỏi họ có, lòng biết ơn đối với sự hiện diện và hỗ trợ của người khác, và, theo lời của văn kiện của các Giám mục Mỹ Latinh tại Puebla, “tình đoàn kết, phục vụ, giản dị, sẵn sàng đón nhận hồng ân của Chúa” (#1147). Họ rao giảng Tin Mừng cho chúng ta từ thập giá.

Chỉ khi nào chúng ta được thánh hóa bởi thập giá, chúng ta mới có thể truyền bá Tin Mừng bằng cách rao giảng sứ điệp của thập giá. Sự “điên rồ” của thập giá sẽ chỉ đáng tin cậy trên môi chúng ta nếu chúng ta đã học được sự “khôn ngoan” của nó từ việc chia sẻ nỗi đau khổ với anh chị em mình.

Chúng ta đã học được cách rao giảng về thập giá mà không nghe có vẻ sáo rỗng chưa? Cuộc sống của chúng ta có cho thấy thập giá có ý nghĩa không? Chúng ta có tìm được những lời lẽ đơn giản, rõ ràng để khích lệ những người đang đau khổ, hay những cử chỉ để an ủi những người bị hoạn nạn không?

Trong bối cảnh rộng lớn hơn này, những “thập giá” tự đặt ra  mà chúng ta thường gọi là sự hãm mình đóng một chức năng, và đôi khi một vai trò quan trọng

Từ góc độ thần học, ngày nay chúng ta nhận ra, có lẽ hơn bao giờ hết (mặc dù một truyền thống thần học lâu đời đã diễn đạt chân lý này theo nhiều cách khác nhau), rằng cái chết không hoàn toàn trùng khớp với một tuyên bố y tế cuối cùng. Sự hấp hối diễn ra dần dần trong suốt cuộc đời; nó chỉ đạt đến đỉnh điểm vào cuối đời (và ngay cả ở đó, thời điểm chính xác của nó cũng khó xác định). Do đó, điều tự nhiên là lòng đạo đức Kitô giáo, đặc biệt khi nhận ra rằng rất ít người thực sự sẽ bị “đóng đinh cùng với Chúa Kitô”, nên tìm cách sống theo gương của Chúa Kitô chịu đóng đinh trong cuộc sống.

Do đó, linh đạo Kitô giáo đã thừa nhận từ ban đầu rằng sự chịu đựng cánh hùng với những đau khổ không thể tránh khỏi giống với việc mang lấy thập giá của Chúa Kitô. Để nói rằng chúng ta chết với Chúa Kitô từng chút một, trong từng lần. Vì vậy, thách thức cụ thể là: Vì những đau khổ này đã biểu hiện cái chết của chúng ta, chúng ta có thể “từ bỏ với sự chấp nhận những gì mang theo chúng ta, chấp nhận hoàng hôn như lời hứa của một giáng sinh vĩnh cửu đầy ánh sáng” hay không?[32]

Các “thập giá khác” được thực hiện tự nguyện, hoặc ít hơn hoặc nhiều hơn như thế, với một sự đa dạng của nhiều lý do tu đức không thể nói hết ở đây.[33] Thánh Vinh Sơn và Thánh Louise đều công nhận giá trị của những thực hành như vậy, đồng thời cảnh báo những người theo họ rằng họ phải luôn luôn thực hiện với sự biện phân và tiết độ.

Mục tiêu của những thực hành như vậy là để giúp đỡ các nhà truyền giáo hoặc các Nữ Tử Bác Ái sống một cuộc sống tràn trề hơn bởi “cái chết” và do đó “sống” tràn trề hơn. Như Margaret Miles đã nói, “do đó, điểm thực tại của những thực hành khổ hạnh không phải là từ bỏ, mà là để tái tạo lại bản thân”. Họ luôn phải có một điểm tham khảo tích cực, như sự tăng trưởng trong phục vụ người nghèo, đời sống cộng đoàn, cầu nguyện. Ví dụ về những điều này có thể là:

Vào thời đại mà bằng chứng khoa học và dữ liệu thực nghiệm thì được nhấn mạnh nhiều hơn, và trong môi trường nơi những kết quả nhanh chóng và thỏa mãn được tìm kiếm nhiều sau đó, thì thập giá chắc chắn là “có thật” Nhưng có phải nó luôn luôn là như vậy? Đối với người Kitô hữu thử thách là một điều vĩnh cửu: niềm tin của chúng ta đặt chúng ta “dưới chân thập giá”, cụm từ mà Thánh Louise rất thích. Chắc chắn, đó là lý do tại sao các vị thánh thường xuyên đề nghị nguyện gẫm về thập giá như một nguồn mạch cho sự tăng trưởng trong đời sống tinh thần.

Thập giá, được nhìn từ quan điểm của đức tin phục sinh, vẫn là dưỡng chất làm cho chúng ta sống động như hôm nay như nó đã làm nơi hai đấng sáng lập của chúng ta? Nó có phải là một bình nước mang ân sủng cho tinh thần của chúng ta?

Thông điệp của thập giá sẽ luôn luôn khó nghe, ngay cả đối với những sứ giả rao giảng về thập giá. Mặc dù đây là Tin Mừng khi được nhìn nhận từ ánh sáng của đức tin phục sinh, nó phải trả giá đắt khi sống qua hàng ngày. Nó là sự sống, nhưng chính sự sống ấy đi qua cái chết. Thập giá là trung tâm của đức tin Kitô giáo, hôm qua và hôm nay.

Món quà thập giá thật quý giá biết bao, thật tuyệt vời biết bao khi được chiêm nghiệm![34]

Nguồn: vincentians.com/

Lm Phêrô Phạm Minh Triều, CM chuyển ngữ.

[1] Bản văn gốc được xuất bản trong Vincentiana 1-2 (Rome: Curia Generalitia, 1993); bản sửa được xuất bản trong cuốn Review for Religious, vol. 53, n. 4, 544-59. Các đoạn Kinh thánh được trích tử bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ.

[2] Cf. SV I, 382; VI, 129; cf. also V, 297, SV viết tắt của bản tiếng Pháp, bộ sách của Pierre Coste; viết tắt SW: Bút tích thiêng liêng của thánh Louise de Marillac, xuất bản và chuyển ngữ tại Pháp do Sr. Louise Sullivan, D.C. (Brooklyn: New City Press, 1991) 434; .

[3] Gương Phúc, cuốn 2 chương 11.

[4] Đối với dữ liệu về ngày tháng và tác giả của các văn bản trích dẫn, tôi đã theo The New Jerome Bible Commentary, biên soạn bởi R. Brown, J. Fitzmyer, và R. Murphy (New Jersey: Prentice Hall, 1990).

[5] Cf. J. Fitzmyer, Tin Mừng theo thánh Luca I-IX, Anchor Bible, vol. 28 (New York: Doubleday, 1981) 220-221.

[6] Cf. A. George, “Le seas de la mort de Jesus pour Luc,” Revue Biblique 80 (1973) 186-217.

[7] Cf. E. Schillebeeckx, Church (New York: Crossroad, 1990), 124-25.

[8] Trong quá khứ, có thể nói rằng Kitô học của Thánh Vinh Sơn, cũng giống như hầu hết những tác giả đương thời của cha, đã kiên định theo chiều “Kitô học đi xuống” cf. SV IX, 640: “Thiên Chúa đã chết cho chúng ta”; cf. also XII, 264.

[9] Đương nhiên, thập giá không phải là biểu tượng duy nhất của tình yêu của Thiên Chúa; trái tim của Chúa Giêsu cũng diễn tả điều này với những cung điệu khác nhau, tình yêu của Thiên Chúa và tình yêu của Chúa Giêsu dành cho chúng ta (xem SV XI, 291).

[10] Cf. SW 54, 325, 349, 354. 424, 439, etc.

[11] Cf. SW 326, 332, 525, 530, 547, 635.

[12] Trong mối liên hệ này, người ta cũng có thể đề cập đến dấu chỉ thập giá, mà Thánh Vinh Sơn đã nhìn thấy như là một phương tiện để dâng hiến tất cả hành động của một người cho Thiên Chúa (xem SV X, 629-630). Cha đã nhìn nó như là dấu hiệu cho thấy các Kitô hữu, từ thời cổ đại, có thể nhận ra người khác và nhắc nhở về mầu nhiệm Ba Ngôi (xem SV XIII, 159).

[13] X. cũng T. Lane, “bà sẽ tìm thấy họ trở lại: sự đăm chiêu nơi Thánh Louise,” Colloque 24 (Autumn 1991), 416-18, nơi tác giả cũng chỉ ra khả năng cười của Thánh Louise.

[14] Một cuộc tìm kiếm sự thoải mái dễ dãi luôn luôn là một trong những gốc rễ của tội lỗi, nhưng một người không thể nào chốn thoát chú ý rằng Thánh Louise và Thánh Vinh Sơn đều bị ảnh hưởng bởi thái độ tiêu cực đối với thực tại tạo ra (và niềm vui) ảnh hưởng đến thời đại của các ngài.

[15] Để có một cái nhìn toàn diện về thần học Kitô giáo đương đại và nguồn gốc lịch sử của nó, xin xem cf. Elizabeth Johnson, Consider Jesus (New York: Crossroad, 1990), especially chapter 8 on “God and the Cross”; also, K . Rahner, “On the Theology of the Incarnation,” Theological Investigation IV (London: Darton, Longman, and Todd, 1966), 105-20; also, K. Rahner, Sacramentum Mundi II (London: Bums and Oates, 1969), 207f.

[16] Có thể trích dẫn nhiều bản văn cho biết cảm xúc của Thiên Chúa đối với dân của Ngài; cf. Gen 6:6; Jos 24:19; Hs 1 1:8; Is 42:14; Tv 103.

[17] Cf. Johnson, Consider Jesus, 119; also E. Schillebeeckx, Christ: The Experience of Jesus as Lord (New York: Crossroad, 1980), 728f.; J. Moltmann, The Crucified God: The Cross of Christ as the Foundation and Criticism of Christian Theology (New York: Harper and Row, 1974).

[18] Cf. Monica Hellwig, Jesus, the Compassion of God (Wilmington: M. Glazier, 1985).

[19] Cf. Gaudium et Spes, số 39, 43, 57.

[20] In a similar way, Karl Rahner, in various articles in Theological Investigations often argues that devotion to the Sacred Heart (symbol of God’s love) is indispensable. Cf. ‘Behold This Heart: Preliminaries to a Theology of Devotion to the Sacred Heart” (III, 321-30); “Some Theses for a Theology of Devotion to the Sacred Heart” (III, 331-52); “The Theological Meaning of the Veneration of the Sacred Heart” (VIII, 217-28); “Unity-Love-Mystery” (VIII, 229-47); “Devotion to the Sacred Heart Today” (XXIII, 117-28).

[21] Tất nhiên một số hình thức sùng kính thập giá là khá “riêng tư”. Ví dụ, sự sùng kính như “chặng đàng thánh giá” chỉ là một cách tập trung vào thập giá của Chúa Kitô, và do đó là khá tùy chọn.

[22] K. Rahner, “The Christian Understanding of Redemptio”, Theological Investigations XXI, 250.

[23] Cf. Jaroslav Pelikan, Jesus through the Centuries (New York: Harper and Row, 1985) 105.

[24] D. Bonhoeffer, Cost of Discipleship (New York: Macmillan, 1959) 99.

[25] SV XI, 341; cf. XII, 270: “bác ái mang nó về điều đó một người không thể nhìn thấy người khác đau khổ mà không đau khổ với người ấy, người ta không thể nhìn thấy anh ta khóc mà cũng không khóc ư”.

[26] SV V, 545: “Đây là dấu hiệu tốt khi chị em phải chịu đựng vì công lý.”

[27] SV XI, 76-77: Abelly nhận xét liên quan đến thánh Vinh Sơn, trong một bài nói chuyện cho các Thừa sai, rằng họ sẽ rất hạnh phúc nếu họ trở nên nghèo khổ thông qua việc thực hành bác ái đối với người lân cận. Thánh Vinh Sơn tiếp tục: “Nếu Thiên Chúa cho phép họ giảm bớt các nhu cầu để thi hành tác vụ trong các làng mạc để kiếm sống, hoặc thậm chí nếu một số người trong họ bị buộc phải ăn xin bánh mì hoặc ngủ trong đống giẻ rách lạnh giá dưới một hàng rào, và nếu trong một tình huống như thế, một người hỏi họ: “Các linh mục nghèo truyền giáo, điều gì đã làm các ngài hạ xuống tới mức này ? thật hạnh phúc, anh em của tôi, nếu họ có thể trả lời: ‘Đó là bác ái.’ Ồ, linh mục nghèo đó sẽ được tôn kính như thế nào trước mặt Thiên Chúa và các thiên thần của Người.”

[28] K. Rahner, “The Following of the Crucified,” Theological Investigations XXII, 160.

[29] Ibid., 168.

[30]Cf. America, vol. 167, n. 8 (September 26, 1992) 179.

[31] Cf. “Los pueblos crucificados, actual siervo sufriente de Yahve,” in Jon Sobrino and Ignacio de Senillosa, America, 500 ados (Barcelona : Cristianisme i Justicia, 1991) 28-3

[32] K. Rahner, “The Following of the Crucified,” Theological Investigations XXII, 170.

[33] For a very interesting treatment of this question see Margaret Miles, Practicing Christianity (New York: Crossroad, 1988) 94-104.

[34]  Từ bài giảng của Thánh Theodore the Studite; Patrologia Graeca 99:691.