Chúa nhật VII Mùa Phục Sinh – Chúa Thăng Thiên- Năm A

Đăng ngày: 4 giờ trước

Sống và làm chứng

Đại ý các bài đọc:

Bài đọc I: Trong Bài đọc thứ nhất từ ​​sách Công vụ Tông đồ (1,1-11), Thánh Luca mô tả bốn mươi ngày cuối cùng của Chúa Kitô Phục Sinh trên trần gian, dạy dỗ và chuẩn bị cho các tông đồ về sự ra đi của Ngài. Ngoài sự kiện Thăng Thiên, lời hứa về Chúa Thánh Thần là điều chúng ta nên tập trung vào vì vào ngày Lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần đã được ban cho tất cả những người đã được rửa tội. Chính nhờ Chúa Thánh Thần mà Kế hoạch Cứu độ của Thiên Chúa sẽ tiếp tục cho đến tận cùng thời gian: “nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1, 8).

Bài đọc II: Bài đọc thứ hai trích từ Thư của Thánh Phaolô gửi tín hữu Êphêsô (1,17-23). ​​Ở đây, Thánh Phaolô liệt kê những thành tựu thiêng liêng cùng với vinh dự và vinh quang mà Chúa Giêsu đã xứng đáng nhận được khi hoàn thành sứ mệnh của Ngài, đó là ơn cứu độ nhân loại và vinh quang của Chúa Cha: “Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Ki-tô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh” (Ep 1, 22).

Bài Tin Mừng: được trích từ Tin Mừng theo Thánh Mátthêu (28:16-20). Đoạn này là phần kết thúc của Phúc Âm theo Thánh Mátthêu. Nó báo hiệu sự chuyển giao sứ mệnh của Chúa Giêsu cho các tông đồ và toàn thể nhân loại như một phần của cam kết khi chịu phép rửa tội.

Vài gợi ý suy niệm:

Hôm nay, toàn thể Giáo hội cử hành ngày lễ Chúa Giêsu lên trời. Trong biến cố này, chúng ta được gợi mở về ba tiêu điểm chính yếu trong cùng một biến cố quan trọng trong cuộc đời của Chúa Giêsu. Đó là việc kết thúc hành trình dương thế của Chúa Giêsu, khi Ngài rởi bỏ các môn đệ để về cùng Cha; kế đến là gợi nhớ về thời gian mà Chúa đã đào tạo các cộng đoàn môn đệ nhỏ bé của Ngài trong đức tin và sai các ông đi rao giảng Tin Mừng; và cuối cùng là về mối tương quan của Chúa và các môn đệ của Ngài. Nó không còn trong tương quan thể lý nữa, nhưng trong mối tương quan thiêng liêng.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, ngay từ đầu, chúng ta đã nhìn thấy một chi tiết hơi bất thường. Khi các môn đệ thấy Chúa Giêsu, họ đã bái lạy Ngài, nhưng lại có vài người khác còn hoài nghi. Hoài nghi ở đây không mang nghĩa là phản lại đức tin, nhưng là một sự lưỡng lự của các môn đệ về kinh nghiệm đức tin của các ông, khi được đòi hỏi phải hoàn hoàn toàn và cam kết với sứ vụ của Chúa hơn mọi yêu cầu khác. Thực tại này cho thấy rằng, sự phục sinh của Đức Kitô không tạo ra một đức tin hoàn hảo ngay từ đầu trong những con người đang có kinh nghiệm về sự hoài nghi ấy. Đức tin ấy cần sự huấn luyện và trưởng thành.

Cộng đoàn nhỏ bé của các môn đệ này vẫn đang dao động trong sự hiểu biết và cam kết đối với Chúa và chấp nhận quyền năng tuyệt đối của Ngài trên đời sống của họ. Đồng thời họ cũng đang dao động về sứ vụ mà Chúa Giêsu đã tín thác cho họ đối với thế giới. Nhưng đó là một thực tế, dù rằng cộng đoàn các môn đệ này chưa có một đức tin hoàn hảo, nhưng Chúa vẫn tín thác sứ vụ của Ngài cho họ để làm chứng cho thế giới về Tin Mừng. Vì thế, với lời mời gọi cho sứ vụ rao giảng Tin Mừng, dù chúng ta chưa thấy hết, hãy cố gắng mở rộng tâm hồn và đặt những chọn lựa này của Chúa lên trên những chọn lựa của riêng chúng ta.

Như vậy, qua lời mời gọi “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28, 19), trước hết là Chúa muốn củng cố đức tin của cộng đoàn các môn đệ. Chúa huấn luyện họ về sự tín thác và tin tưởng vào mệnh lệnh Ngài đã truyền và can đảm ra đi làm chứng nhân. Đó là lời mời gọi đào sâu đức tin hơn trong sứ vụ truyền giáo. Qua đó, Chúa cũng khích lệ các môn đệ rằng, Thiên Chúa luôn luôn làm việc cùng với họ và cũng là cho mỗi người Kitô hữu chúng ta. Mỗi khi sống kinh nghiệm ấy, đó chính là lúc chúng ta đang sống trong cuộc hành trình của một người môn đệ.

Kế đến, một mệnh lệnh khá thách đố cho các môn đệ, đó là làm cho các dân khác (dân ngoai) cũng trở thành môn đệ. Điều này nghĩa Chúa Giêsu muốn các môn đệ hãy ra đi và “môn đệ hóa” các dân ngoại cũng trở thành những người tin theo Chúa, giống như các ông. Theo sứ điệp này, các môn đệ sẽ chia sẻ cho người khác về kinh nghiệm gặp gỡ của mình với Chúa và mình đã sống kinh nghiệm ấy như thế nào, để người khác cũng cảm nghiệm được hồng ân đức tin và ân sủng mà người ấy đã được đón nhận.

Sự tác động mang tính môn đệ hóa này không chỉ xảy ra ở tầm mức một cộng đoàn hay nhóm lớn không mà thôi, nhưng nó còn diễn ra trong tương quan một – một ở trong các gia đình, cộng đoàn hay giáo xứ và trong giữa những người bạn. Đó chính là sự kính trọng qua lại, sự tin tưởng qua lại và sự chân thành để giới thiệu người khác đến với Chúa. Để có được kết quả này trước hết nó đòi hỏi mỗi người Kitô hữu cần được huấn luyện về mặt đức tin trước, qua các chương trình Giáo lý, Kinh thánh hoặc Thần học….và rồi ra đi để huấn luyện người khác và đó là tiến trình của người môn đệ truyền giáo, người môn đệ thừa sai. Như vậy việc trở thành nhà truyền giáo, tức là trở thành món quà cho người khác như mình đã được trao tặng.

Sâu sắc hơn trong lời mời gọi của Chúa Giêsu, chúng ta thấy việc đi và làm cho người khác trở thành môn đệ luôn mang hai chiều kích: làm phép rửa và giảng dạy. Trong phép rửa, mỗi người được đón nhận món quà ân sủng tuyệt vời là sự sống đời đời trong Chúa và trở nên thành viên của Giáo hội trong một thân mình Đức Kitô. Đó chính là những món quà thiêng liêng siêu việt mà Thiên Chúa đã ban tặng, nên chúng ta cần biết dùng chúng cho hạnh phúc của chính bản thân và sau đó dạy cho người khác cách dùng những món quà ấy để mang lại ích lợi cho phần thiêng liêng của họ.

Nhìn vào Giáo hội ngày nay nơi các quốc gia đã từng là những nước Kitô giáo vững mạnh. Đôi khi người Kitô hữu ở đây không còn cảm thấy phấn khởi và lòng nhiệt thành để truyền giáo, dù chỉ là cho người trong gia đình của họ. Tại vì ngay chính họ đã được rửa tội, nhưng họ lại không sống ơn gọi của bí tích rửa tội ấy, nên chẳng cảm nghiệm được món quà thiêng liêng quý giá Chúa ban và rồi chẳng biết để chia sẻ món quà ấy cho người khác. Hay nói cách cụ thể là họ không thể dạy người khác về đức tin. Điều này cũng rất gần với gia đình Kitô hữu chúng ta, như cha mẹ không sống bí tích rửa tội, thì con cái cũng rất dễ lơ mơ về mặt đức tin… Cho nên trước khi trở thành người thừa sai hay nhà truyền giáo, mỗi người cần được Tin Mừng hóa bản thân mình trước nhất.

Như vậy lệnh truyền của Chúa luôn là một một thách đố cho các môn đệ và bây giờ cho mỗi người Kitô hữu chúng ta. Mệnh lệnh này trước hết là một lời mời gọi củng cố đức tin và nhắc nhớ cho chúng ta về ân ban của bí tích rửa tội. Trước hết mỗi người hãy cố gắng sống và làm giàu ân sủng qua ơn gọi Kitô hữu của mình, đào luyện đức tin của mình. Và rồi, lên đường đến với người khác để trở thành chứng nhân cho Chúa và chia sẻ ân ban ấy cho người khác, để họ cũng được đón nhận ân sủng và trở thành môn đệ.

Lm Phêrô Phạm Minh Triều, CM.