Đóng cửa Năm Thánh, tiếp tục mở ra những con đường hy vọng

Như vậy chỉ còn vài ngày nữa là Năm Thánh thường lệ 2025 với chủ đề “NHỮNG NGƯỜI HÀNH HƯƠNG CỦA HY VỌNG” (Peregrinantes in Spem) sẽ chính thức khép lại với nghi thức đóng Cửa Thánh cuối cùng tại Đền thờ Thánh Phêrô, do Đức Giáo hoàng Leo XIV chủ sự vào ngày lễ Hiển Linh sắp tới, ngày 6 tháng giêng, năm 2026.
Trước khi Năm Thánh này được diễn ra, Đức Cố Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Sắc chỉ Năm Thánh vởi chủ đề Spes non confundit– “Hy vọng không làm thất vọng” (Rm 5,5) vào ngày ngày 9 tháng 5, Lễ trọng Chúa Giêsu Kitô Lên Trời, năm 2024. Với sắc chỉ này, toàn thể Giáo hội được định hướng và hướng dẫn làm sao để sống Năm Thánh cho thật ý nghĩa và tận dụng được mọi cơ hội của ân sủng để canh tân lại đời sống của mình.
Tạ ơn Chúa Năm Thánh ấy đã qua đi với nhiều biến chuyển trong chính Giáo hội và cả xã hội. Một trong các điểm đáng chú ý của Năm Thánh này là được diễn ra dưới hai triều đại giáo hoàng. Đức Giáo hoàng Phanxicô đã mở cửa khai mạc Năm Thánh, nhưng người kế nhiệm ngài là Đức Giáo hoàng Leo XIV lại là người đóng Cửa Thánh, bế mạc Năm Thánh. Ba trong bốn Cửa Thánh tại Roma đã được đóng lại như được nói trong Sắc chỉ Năm Thánh, cùng với các Cửa Thánh của các giáo phận địa phương và Cửa Thánh tại Đền thờ Thánh Phêrô là Cửa Thánh cuối cùng sẽ được đóng lại.
Về Cửa Thánh này tại Đền thờ Thánh Phêrô, như lịch sử để lại, trước đây đã từng có một Cửa Thánh bằng gỗ và được khai mở bởi Đức Giáo hoàng Benedicto XIV vào năm 1748 và được đặt ở đây cho đến kết thúc chiến tranh thế giới thứ II.[1]
Sau đó Đức giám mục của Basil –Lugano là Đức cha Francesco von Streng, đã tặng cho Đức Giáo hoàng Pio XII một Cửa Thánh bằng đồng như một dấu chỉ của lòng biết ơn của người dân Thụy Sĩ cho khỏi bị cuộc chiến tranh khốc hại. Đức Giáo hoàng Pio XII đã làm phép Cửa Thánh này trong một dịp trọng thể và ngài đã nói rằng: “Những tấm phù điêu bằng đồng ấy đã xúc động ca ngợi lòng thương xót kỳ diệu của Thiên Chúa, Đấng đến tìm kiếm những gì đã mất.”[2]
Hình ảnh chiếc cửa đã được chính Chúa Giêsu tuyên bố trong Tin Mừng Gioan “Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ” (Ga 10, 9). Chúa Giêsu chính là cửa chuồng chiên và là mục tử nhân lành. Ngài yêu thương đàn chiên của mình và muốn chăm sóc bảo vệ chúng. Ai qua cánh cửa ấy thì sẽ được cứu, nghĩa là sẽ có sự sống hoặc tìm lại được sự sống, sự sống của chính chúa được ban tặng cho mỗi người.
Thế nhưng, hình ảnh chiếc cửa cũng nhắc nhớ về sự hạn hẹp của nó, đôi khi người nào muốn đi qua đó phải hơi cúi xuống hoặc phải làm cho mình nhỏ gọn lại để có thể qua được những cửa hẹp. Đó là sự hoán cải mà mỗi người được mời gọi khi đi qua Cửa Thánh. Năm Thánh này có cả hàng triệu người đã được đi qua Cửa Thánh này. Chắc hẳn mỗi người sẽ có những kinh nghiệm riêng tư của mình về đời sống thiêng liêng, nhưng tâm tình chung về sự hoán cải là một ý tưởng sẽ không bao giờ có thể quên được.
Đồng thời cánh cửa này cũng nhắc nhớ về chính Giáo hội là cửa dẫn người ta đến cùng Chúa. Trong phụng vụ, cánh cửa của một nhà thờ luôn luôn được nhìn như cách lối để giúp nhân loại tiếp cận Thiên Chúa qua Đức Kitô, để lắng nghe lời Chúa, để cử hành Thánh Thể, để cầu nguyện, để thăng tiến dân Chúa. Vì thế, khi nói về biểu tượng của những Cửa Thánh này, tại Nhà thờ Thánh George ở Milan, phía trên của cửa chính người ta đã thấy khắc họa những dòng chữ thật ý nghĩa rằng:
“Ta là cánh cửa dẫn đến sự sống: mọi người đều phải bước vào; tất cả những ai tìm kiếm niềm vui thiên đường đều phải bước vào qua Ta; nguyện xin Đấng được sinh ra từ lòng Đức Trinh nữ, chứ không phải từ loài người, cứu rỗi mọi người bước vào, nâng đỡ những ai trở về.” [3]
Cánh cửa mang tính biểu tượng cho một Giáo hội được đánh dấu bởi sự thánh thiêng và chiều sâu, phân tách giữa bên trong Giáo hội (lòng nhà thờ) và thế giới bên ngoài. Nó là ranh giới của sự chào đón và sự ngăn cách. Vì thế mỗi khi bước qua Cửa Thánh này, mỗi người hành hương được nhắc nhở về ơn gọi và sứ vụ của mình trong Giáo hội, cũng như sống đúng như bản chất của Giáo hội để có thể tiếp chạm được với Thiên Chúa và có thể vào trong và cư ngụ trong nhà của Chúa.
Vì thế chúng ta thấy được tầm quan trọng của Cửa Thánh của đền thờ Thiên Chúa, nơi dân Ngài bước vào để gặp gỡ Thiên Chúa. Với ý nghĩa này, mỗi một Cửa Thánh mang ý nghĩa về chính cuộc hành hương của nó. Đi qua Cửa Thánh như một dấu chỉ của cuộc hành hương của cuộc sống, bước về phía trước với đức tin, hy vọng và sự tín thác vào Chúa.
Chúa Kitô có thể làm ra những con đường nơi những chỗ mà dường như không có lối đi. Cánh cửa trái tim ngài không bào giờ đóng lại hay khép kín, nhưng luôn rộng mở. Ngài luôn đứng trước cửa tâm hồn mỗi người chúng ta và gõ cửa, để Ngài có thể bước vào tâm hồn mỗi người, để ở lại với chúng ta và soi sáng chúng ta, như Đức Cố giáo hoàng Phanxicô đã từng nói rằng “Vì ngay cả khi Cửa Thánh đóng lại, cánh cửa thương xót đích thực, chính là trái tim Chúa Kitô, vẫn luôn rộng mở cho chúng ta. Từ vết thương bên sườn của Đấng Phục Sinh cho đến tận cùng thời gian, lòng thương xót, sự an ủi và niềm hy vọng vẫn luôn tuôn chảy.”[4]
Kế đến, trong lịch sử Năm Thánh của Giáo hội, chúng ta cũng đã từng chứng kiến các năm thánh với hai triều đại giáo hoàng.[5] Chẳng hạn Năm Thánh 1390: được Đức Giáo hoàng Urban VI công bố, nhưng Đức Giáo hoàng Bonifat IX cử hành; Năm Thánh 1475: được Đức Giáo hoàng Phaolô II công bố, nhưng Đức Giáo hoàng Sixtus IV cử hành; Năm Thánh 1550: được Đức Giáo hoàng Phaolô III công bố, nhưng Đức Giáo hoàng Julius III cử hành; Năm Thánh 1700: được Đức Giáo hoàng Innocent XII khai mạc, và được kết thúc bởi Đức Giáo hoàng Clement XI; Năm Thánh 1775: được Đức Giáo hoangd Clement XIV công bố, nhưng Đức Giáo hoàng Pius VI cử hành; Và Năm Thánh 2025: được khai mở bởi Đức Giáo hoàng Phanxciô và đóng lại bởi Đức Giáo hoàng Leo XIV và biến cố này giống như biến cố Năm Thánh 1700.
Qua biến cố này, dường như chúng ta có cảm tưởng như một sự gián đoạn hay đứt gãy của tiến trình Năm Thánh. Nhưng kỳ thực, chúng ta lại nhận ra đó là một dấu chỉ về niềm hy vọng của sự tiếp tục, kế thừa và tiến triển của Giáo hội trong đời sống thiêng liêng, như Đức Giáo hoàng Leo đã nói trong dịp gặp hồng y đoàn chỉ một thời gian ngắn sau khi được bầu làm giáo hoàng: “Giáo hoàng, bắt đầu từ Thánh Phêrô và đến tôi, người kế vị bất xứng, là một tôi tớ khiêm nhường của Chúa và anh em, không gì khác hơn thế. Điều này đã được thấy rõ qua mẫu gương của nhiều vị tiền nhiệm của tôi, gần đây nhất là Đức Giáo Hoàng Phanxicô, với cách tận tụy phục vụ và sống giản dị, phó thác cho Chúa trong thời gian truyền giáo và tin tưởng thanh thản khi trở về Nhà Cha. Chúng ta hãy cùng thu thập di sản quý giá này và tiếp tục cuộc hành trình, được thúc đẩy bởi cùng một niềm hy vọng đến từ đức tin”.[6]
Và qua Tông huấn đầu tiên Dilexi te Đức Giáo hoàng Leo XIV cũng thổ lộ về tâm tình của mình được cảm hứng từ cuộc đời của Đức Giáo hoàng Phanxicô, khi xem thông điệp mới này như một sự kế tiếp về những gì vị giáo hoàng qua cố đã làm: “Vì lý do đó, trong sự tiếp nối Thông điệp Dilexit Nos, Đức Phanxicô trong những tháng cuối đời đã soạn thảo một Tông huấn về sự quan tâm của Giáo Hội đối với người nghèo, và ngài đã đặt tựa đề cho văn kiện ấy là Dilexi Te, như thể chính Chúa Kitô nói những lời ấy với từng người trong họ, rằng: “Ngươi tuy ít thế lực,” nhưng “Ta đã yêu thương ngươi” (Kh 3,9).”[7]
Như vậy cả hai vị giáo hoàng đều đang cùng với Giáo hội và hướng dẫn Giáo hội bước đi trên con đường hành hương của hy vọng. Cuộc hành hương này có thể có những trắc trở gập ghềnh hay khó khăn, nhưng nó luôn luôn là một cuộc hành hương tiến về phía trước. Và một trong những khó khăn và sự thất vọng nhất mà con người có thể đối diện chính là cái chết. Dường như trong chính Sắc chỉ Năm Thánh, Đức Cố Giáo hoàng Phanxicô đã có những lời ngôn sứ về niềm hy vọng qua biến cố của cái chết, vì chính ngài đã trải qua biến cố này trong chính Năm Thánh mà ngài đã khai mở: “Và nếu trước cái chết, một sự chia ly đau đớn buộc chúng ta phải xa lìa những người thân yêu nhất, mà chẳng có lời nào an ủi được, thì Năm Thánh sẽ mang lại cho chúng ta cơ hội tái khám phá, với lòng biết ơn sâu sắc, món quà sự sống mới đã nhận được nơi bí tích Rửa tội, có khả năng biến đổi bi kịch này.”[8]
Như vậy, niềm hy vọng Phục Sinh của Đức Kitô chính là niềm hy vọng lớn lao cho mỗi người Kitô hữu, và giờ đây cũng cho chính Đức Cố Giáo hoàng Phanxicô. Đây là niềm hy vọng ngàn đời vĩnh cửu mà chẳng có bất cứ một thế lực trần thế nào có thể phá đổ hay làm thay đổi bản chất.
Vào những ngày cuối Năm Thánh này, chắc chắn những lời đầy hy vọng này sẽ nâng đỡ chúng ta, dù chúng ta đang phải đối diện với những biến chuyển khác trong thế giới, khi chúng ta biết đặt mỏ neo hy vọng vào chính Đức Kitô, Đấng cứu độ chúng ta: “Hình ảnh chiếc mỏ neo gợi lên sự ổn định và an toàn mà chúng ta có được giữa dòng nước xao động của cuộc đời nếu chúng ta nương tựa vào Chúa Giêsu.”[9]
Trong Sắc chỉ Năm Thánh Đức Cố giáo hoàng Phanxicô đã hy vọng về một thế giới tốt đẹp hơn trong tương quan của các quốc gia, dân tộc và mỗi con người với nhau. Nhưng dường như những diễn tiến này không hề thay đổi, thậm chí, còn xem ra tệ hơn, chẳng hạn về vấn đề tìm kiếm hòa bình trong các cuộc chiến tranh; tình trạng di dân và người nhập cư, nạn đói và thiếu lương thực… Những thực tạị này làm cho chúng ta nản lòng và cảm thấy đau khổ. Nhưng chắc hẳn nó sẽ không làm cho chúng ta thất vọng, nhưng biết khiêm tốn cậy trông vào quyền năng của Chúa hơn, để cùng nhau kiến tọa hòa bình, đem lại hạnh phúc cho người khác và nó đều bắt đầu từ mỗi người, mỗi gia đình, giáo xứ và cộng đồng chúng ta đang sống.
Đó là tiến trình của niềm hy vọng mà chúng ta sẽ tiếp tục, dù Năm Thánh có kết thúc như những lời cuối của Sắc chỉ: “Năm Thánh sắp tới sẽ là một Năm Thánh mang nét đặc trưng của niềm hy vọng không bao giờ mất đi, niềm hy vọng nơi Thiên Chúa.”[10] Giờ đây không còn là Năm Thánh sắp tới, nhưng là năm thánh sắp qua đi, nhưng không vì thế mà niềm hy vọng có thể chấp dứt. Nó vẫn còn đó và thậm chí sẽ mạnh mẽ hơn, nếu chúng ta biết hy vọng vào Đấng có thể mang đến cho chúng ta niềm hy vọng vĩnh cửu.
Tạ ơn Chúa, con cũng đã có dịp để bước qua bốn Cửa Thánh tại Roma trong dịp Năm Thánh hồng ân này. Xin tiếp tục dẫn lối con đi trong những năm không Năm Thánh phía trước và xin cho con luôn vững vàng trong niềm hy vọng của đời sống Kitô hữu mỗi ngày, nơi Chúa Đấng cứu độ con.
Bế mạc Năm Thánh 2025
Lm Phêrô Phạm Minh Triều, CM
[1] Noe Virgilio, The Holy Door In St. Peter (Vatican: AST), 3.
[2] Ibid.
[3] Ibid, 5. Bản văn Latinh là: IANVA SVM VITATE PRECOR OMNES INTROVENITE PER ME TRANSIBVNT QVI COELI GAVDIA QVAERVNT VIRGINE QVI NATVS NVLLO DE PATRE CREATVS INTRANTES SALVET REDEVNTES IPSE GVBERNET.
[4] Bài giảng của Đức Giáo hoàng Phanxicô trong dịp đóng cửa Năm Thánh Thương Xót ngày 20 tháng 11 năm 2016, https://www.vatican.va/content/francesco/en/homilies/2016/documents/papa-francesco_20161120_omelia-chiusura-giubileo.html
[5] “Jubilees throughout History,” https://www.iubilaeum2025.va/en/giubileo-2025/giubilei-nella-storia.html.
[6] “Đức Thánh Cha Lêô XIV gặp gỡ Hồng y đoàn,” https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2025-05/dtc-leo-xiv-gap-hong-y.html
[7] Leo XIV, Dilexi te, # 3.
[8] Spes Non Confundit (Sắc chỉ công bố Năm Thánh thường lệ 2025), # 20, https://www.vatican.va/content/francesco/vi/bulls/documents/20240509_spes-non-confundit_bolla-giubileo2025.html.
[9] Ibid, # 25.
[10] Ibid.
