Chúa nhật VI Mùa Phục Sinh – Năm A

Đăng ngày: 10 giờ trước

Sống trong sự hiện diện của Chúa

Đại ý các bài đọc:

Bài đọc I: Trong Bài đọc thứ nhất từ ​​sách Công Vụ Tông Đồ (8:5-17), chúng ta đọc hoặc nghe về việc Philípphê, một trong những phó tế mới, đã đến Samari để rao giảng Lời Chúa. Để thu hút sự chú ý đến lời rao giảng của Philípphê, Thiên Chúa đã làm nhiều phép lạ qua ông, và nhiều người Samari đã được hoán cải và chịu phép rửa. Niềm vui được thể hiện không phải đến từ các phép lạ hay từ lời rao giảng của Philípphê, mà là từ Thánh Thần của Chúa Giêsu mà họ đã nhận được trong phép rửa tội: “Khi đến nơi, hai ông cầu nguyện cho họ, để họ nhận được Thánh Thần” (Cv 8, 15). Sự hoán cải tâm hồn và sự cam kết trong phép rửa tội làm cho chúng ta được tràn đầy Thánh Thần, Đấng ban cho niềm vui, tình yêu, bình an và nhiều ơn lành khác.

Bài đọc II: Bài đọc thứ hai trích từ Thư thứ nhất của Thánh Phêrô (3:15-18). Trong đoạn này, Thánh Phêrô đang nói với các môn đệ của ngài, và cả chúng ta, rằng chúng ta nên chia sẻ Tin Mừng với bất cứ ai quan tâm, không phải bằng vũ lực hay áp đặt, mà bằng cách nhẹ nhàng chia sẻ với họ những điều tuyệt vời Thiên Chúa đã làm cho tất cả chúng ta: “Nhưng phải trả lời cách hiền hoà và với sự kính trọng” (1 Pr 3, 16).

Bài Tin Mừng: được trích từ Tin Mừng theo Thánh Gioan (14:15-21). Đây là phần tiếp theo của Phúc Âm Chúa Nhật tuần trước. Bối cảnh là Bữa Tiệc Ly, và Chúa Giêsu nói với các tông đồ rằng Ngài sắp rời bỏ họ “một thời gian” nhưng Ngài sẽ ở cùng họ qua Thánh Linh của Ngài.

Vài gợi ý suy niệm:

Chúng ta đang tiến gần đến ngày cử hành lễ Chúa Giêsu lên trời. Nhưng trong bài đọc Tin Mừng, thì bối cảnh lại là những lời dặn dò của Chúa Giêsu dành cho các môn đệ của Ngài trước khi Ngài bước vào cuộc khổ nạn. Cả hai bối cảnh đều có chung một điểm để nói về một điều. Đó là về sự chia tay hay xa cách mà Chúa Giêsu sắp phải trải qua. Nhưng đó không phải là những tâm tình của sự tuyệt vọng hay đau buồn, mà là lời hứa về một Đấng Bảo Trợ khác sẽ đến khi Chúa Giêsu không còn ở với các môn đệ.

Vậy thì làm sao để các môn đệ sống trọn vẹn ơn gọi tông đồ của mình trong cái “khoảng trống” thiêng liêng này? Điều đầu tiên mà chúng ta dễ dàng nhận ra, đó là Chúa Giêsu khích lệ các môn đệ hãy sống (vâng theo) và yêu mến để sống tất cả những giới răn mà Ngài đã dạy “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14, 15). Điều này diễn tả một hành vi đức tin vào những lời dạy của Chúa Giêsu, cũng như từ Chúa Cha. Như vậy luôn có một sự nối kết giữa tình yêu của mỗi người dành cho Chúa và hành động tương xứng của người ấy dành cho Ngài.

Tình yêu mà Chúa Giêsu muốn các môn đệ thực hành và sống nó không phải là điều dễ dàng. Tình yêu này luôn mang hai chiều kích, tình yêu dành cho Chúa và tình yêu dành cho tha nhân. Xét cách nào đó, chúng ta sẽ thấy nó dễ dàng, vì coi tình yêu ấy như một thứ cảm xúc nội tâm cá nhân và tập trung vào mối tương quan thiêng liêng. Nhưng nó sẽ trở nên khó khăn, khi đòi hỏi sống tình yêu ấy cách thực tế, bằng cách trao ban chính mình như Chúa, cho người khác xung quanh mình.

Cho nên, một người ước mong sống tình yêu và lời dạy của Chúa đòi hỏi phải vượt ra khỏi những cảm xúc nội tâm thiêng liêng đơn thuần, để trở nên chứng nhân của tình yêu Chúa cho người khác. Đó là một tình yêu hiến thân của Đức Kitô đã dành cho chúng ta. Chính khi chúng ta dám sống chiều kích này của tình yêu chứng nhân, chúng ta càng cảm nhận sâu sắc hơn tình yêu của Chúa trong đời sống của mình.  

Việc sống tình yêu của Chúa này là một thách đố thực sự cho những ai sẵn sàng bước theo Chúa, kể cả dường như Thiên Chúa vắng mặt hay “đi xa” chúng ta. Đặc biệt nếu tình yêu này đòi hỏi chúng ta nơi những người nghèo khổ hay những người chúng ta không yêu thích thì lại là một thách đố lớn. Rõ ràng tình yêu này đòi hỏi chúng ta phải vượt lên những cảm xúc giác quan thông thường và đào sâu tình yêu Chúa dành cho chúng ta hơn. Đó là một lối sống của người môn đệ.

Điều dặn dò kế tiếp Chúa Giêsu dành cho các môn đệ, là lời hứa sẽ xin một Đấng Bảo Trợ khác đến để tiếp tục đồng hành và hướng dẫn các tông đồ. Đấng Bảo Trợ này theo nghĩa của từ Hy lạp (para kaleo) nghĩa là nói thay cho một người khác. Nhưng dần dần ý nghĩa của từ này đã được hiểu rộng hơn chẳng hạn như để nói về Đấng Bầu Cử, Đấng An Ủi, Đấng dạy Sự thật, …nhưng tất cả những từ này đều nhằm diễn tả những hành động rất thân thuộc mà chính Chúa Giêsu đã làm lúc còn ở với các môn đệ, khi công khai rao giảng Tin Mừng cho dân chúng.

Cho nên hình ảnh của Đấng Bảo Trợ sẽ được sai đến này, giúp gợi nhớ đến và sẽ tiếp tục những sứ vụ của Chúa Giêsu trong Giáo hội khi Chúa Giêsu về cùng Cha. Đó chính là Chúa Thánh Thần, Đấng luôn sinh động hóa đời sống của Giáo hội, điều mà đã khởi hứng các tông đồ để sống gắn bó với Chúa Giêsu và Chúa Cha và kết hợp họ lại trong tình yêu thương nhau và để học tiếp tục rao giảng về sự thật Tin Mừng qua mợi thời và mọi nơi chốn.

Và rồi cuối cùng, lời hứa của Chúa Giêsu về việc Ngài sẽ ở lại với các môn đệ cho đến ngày tận thế. Nhưng điều này không có nghĩa là Chúa sẽ ở lại riêng với từng người theo nghĩa cá nhân, nhưng với tư cách là một cộng đoàn đức tin. Điều này có nghĩa rằng tình yêu của Ngài dành cho Cha nó không phải là tình yêu vị kỷ, nhưng là một tình yêu cách phổ quát. Vì thế, Giáo hội với ân ban của Chúa Thánh Thần sẽ là một cộng đoàn của những người tin, sống yêu thương nhau và sống trong tương quan mật thiết với Chúa. Giáo hội là thiêng liêng nơi có ân ban của Chúa Thánh Linh và sự hiện diện của Chúa Giêsu trong mối dây hiệp thông với Chúa Cha.

Với đặc tính này của Giáo hội, mỗi người Kitô hữu luôn được mời gọi để sống trong sự hiện diện của Chúa Giêsu và ân ban của Chúa Thánh Thần trong sự thông hiệp với Chúa Cha trong lòng của Giáo hội. Vì thế, các Kitô hữu khi ở trong Giáo hội, họ sẽ sống trong tương quan hiệp thông với Ba ngôi Thiên Chúa và yêu thương anh chị em mình trong cộng đoàn Giáo hội ấy.

Đó là cách thế và nơi chốn, để mỗi người Kitô hữu chúng ta luôn sống trong sự hiện diện sống động của Thiên Chúa trong đời sống mỗi người.

Lm Phêrô Phạm Minh Triều, CM.